Chủ tịch Hồ Chí Minh với đọc sách và tự học
giáo dục địa phương 8

- 0 / 0
(Tài liệu chưa được thẩm định)
Nguồn: sưu tầm
Người gửi: Vũ Thị Hoa
Ngày gửi: 08h:55' 14-01-2025
Dung lượng: 6.3 MB
Số lượt tải: 1
Nguồn: sưu tầm
Người gửi: Vũ Thị Hoa
Ngày gửi: 08h:55' 14-01-2025
Dung lượng: 6.3 MB
Số lượt tải: 1
Số lượt thích:
0 người
UỶ BAN NHÂN DÂN TỈNH HẢI DƯƠNG
SỞ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
LƯƠNG VĂN VIỆT (Tổng Chủ biên)
ĐỖ DUY HƯNG (Chủ biên)
NGUYỄN THANH THUỶ – PHẠM VĂN KHANH – NGUYỄN NGỌC KHÁNH
7
8
Mục lục
3
4
2
Chuyên đề 1
Vùng đất Hải Dương từ thế kỉ XVI đến đầu thế kỉ XIX
Chuyên đề 2
Thành Đông – biểu tượng của Hải Dương
17
Chuyên đề 3
Dấu ấn văn hoá phương Tây (Thế kỉ XVI – XX)
tại Hải Dương
24
Chuyên đề 4
Đặc điểm chung địa hình và ảnh hưởng của
sự phân hoá địa hình đối với tự nhiên và
khai thác kinh tế
Chuyên đề 5
Sự đa dạng sinh học và các biện pháp bảo vệ
đa dạng sinh học tại Hải Dương
48
Chuyên đề 6
Văn học viết Hải Dương
58
5
33
Lời nói đầu
Các em học sinh thân mến!
Tài liệu Giáo dục địa phương tỉnh Hải Dương – Lớp 8 sẽ tiếp tục đồng
hành cùng các em học sinh trong việc tiếp cận và khám phá các vấn đề
về văn hoá, lịch sử truyền thống; địa lí, kinh tế, hướng nghiệp; chính trị –
xã hội, môi trường của xứ Đông xưa, Hải Dương nay.
Với 06 chuyên đề được Ban Biên soạn lựa chọn kĩ lưỡng, bám sát mục
tiêu, yêu cầu của nội dung giáo dục địa phương, các em sẽ có cơ hội, trải
nghiệm, tìm hiểu vùng đất Hải Dương từ thế kỉ XVI đến đầu thế kỉ XIX,
Thành Đông – biểu tượng của Hải Dương; dấu ấn văn hoá phương Tây
(thế kỉ XVI – XX) tại Hải Dương; đặc điểm chung địa hình và ảnh hưởng
của sự phân hoá địa hình đối với tự nhiên và khai thác kinh tế; sự đa dạng
sinh học và các biện pháp bảo vệ đa dạng sinh học tại Hải Dương; văn học
viết Hải Dương.
Thông qua các hoạt động khám phá tri thức, các em có điều kiện phát
huy, phát triển một số năng lực cốt lõi và phẩm chất chủ yếu cần có của
học sinh trung học cơ sở. Qua đó, bồi dưỡng niềm tự hào, tình yêu quê
hương, ý thức giữ gìn, bảo tồn và phát huy các giá trị truyền thống của quê
hương; vận dụng những điều đã học vào giải quyết những vấn đề nảy sinh
từ thực tế của quê hương, góp phần bảo vệ môi trường tự nhiên tại tỉnh
Hải Dương nói riêng, cả nước nói chung.
Trong quá trình biên soạn, tài liệu không tránh khỏi những thiếu sót.
Rất mong nhận được ý kiến đóng góp của các các thầy, cô giáo và các em
học sinh để Tài liệu giáo dục địa phương tỉnh Hải Dương – Lớp 8 ngày
càng hoàn thiện hơn.
Ban Biên soạn
3
Hướng dẫn sử dụng tài liệu
8
Phần em có biết: là những thông tin bổ trợ để giải thích, mở rộng,
làm rõ nội dung tuyến chính.
4
CHU Y ÊN Đ Ề 1
VÙNG ĐẤT HẢI DƯƠNG
TỪ THẾ KỈ XVI ĐẾN ĐẦU THẾ KỈ XIX
• Trình bày được sự phát triển của xã hội, kinh tế, văn hoá Hải Dương từ thế kỉ
XVI đến thế kỉ XIX.
• Nhận xét được sự phát triển của kinh tế, văn hoá của Hải Dương trong lịch
sử dân tộc cùng giai đoạn.
• Tìm hiểu, giới thiệu được một số di tích lịch sử – văn hoá; thành tựu văn hoá;
nghề thủ công tiêu biểu của Hải Dương trong giai đoạn này.
Đền thờ Tiến sĩ Nguyễn Thị Duệ, thành phố Chí Linh
5
Trong các thế kỉ XVI – XIX, vùng đất Hải Dương có nhiều biến động về
văn hoá – kinh tế, xã hội. Hãy chia sẻ hiểu biết của em về những thay đổi của
vùng đất Hải Dương từ thế kỉ XVI – XIX.
I. HÀNH CHÍNH VÀ XÃ HỘI
1 Hành chính vùng đất Hải Dương
Trong các thế kỉ XVI – XIX, hành chính vùng đất Hải Dương có những chuyển
biến gì?
Từ thời nhà Mạc đến thời Tây Sơn, hành chính vùng đất Hải Dương không có nhiều
thay đổi, tên phủ, huyện cơ bản được giữ nguyên theo bản đồ Hồng Đức vẽ năm 1490:
Thừa tuyên (xứ, đạo, trấn) Hải Dương gồm bốn phủ: Thượng Hồng, Hạ Hồng, Nam Sách
và Kinh Môn.
Trong giai đoạn này, phủ Thượng Hồng có ba huyện (Đường An, Đường Hào và
Cẩm Giàng); phủ Hạ Hồng có bốn huyện (Gia Phúc, Tứ Kỳ, Vĩnh Lại và Thanh Miện); phủ
Nam Sách có bốn huyện (Thanh Hà, Tân Minh, Thanh Lâm và Chí Linh); phủ Kinh Môn
có bảy huyện (Hiệp Sơn, Đông Triều, An Lão, Nghi Dương, Thủ Đường, Kim Thành và
An Dương).
Sau khi lên năm chính quyền (từ năm
1527), nhà Mạc đã xây dựng kinh đô tại
quê hương (làng Cổ Trai, huyện Nghi
Dương, phủ Kinh Môn, trấn Hải Dương
(nay thuộc huyện Kiến Thuỵ, Hải Phòng).
Dương Kinh thuộc vùng đất Hải Dương
xưa đã trở thành trung tâm chính trị,
kinh tế, văn hoá lớn của nước ta trong
thế kỉ XVI.
6
Hình 1. Dấu tích cung điện Dương Kinh tại
Cổ Trai (nay thuộc xã Ngũ Đoan,
huyện Kiến Thuỵ, Hải Phòng)
Thời nhà Nguyễn, trong những năm 1802 – 1830, Hải Dương là một trong 23 trấn
của cả nước, gồm bốn phủ Thượng Hồng, Hạ Hồng, Kinh Môn và Nam Sách.
Phủ Thượng Hồng thời nhà
Nguyễn gồm ba huyện (Cẩm Giàng,
Đường Hào, Đường An); phủ Hạ Hồng
gồm bốn huyện (Tứ Kỳ, Vĩnh Lại,
Thanh Miện, Gia Lộc); phủ Kinh Môn
gồm bảy huyện (An Lão, An Dương,
Thuỷ Đường, Nghi Dương, Đông Triều,
Kim Thành, Giáp Sơn); phủ Nam Sách
Hình 2. Mộc bản sách “Đại Nam thực lục chính
biên” ghi chép về tên gọi trấn Hải Dương
dưới triều vua Gia Long gồm bốn phủ, 18 huyện
gồm bốn huyện (Chí Linh, Thanh Lâm,
Thanh Hà, Tiên Minh).
Từ năm 1831, trấn Hải Dương được đổi thành tỉnh Hải Dương (hay còn gọi là tỉnh
Đông), đứng đầu tỉnh là quan Tổng đốc. Trong những năm 1831 – 1887, Hải Dương
gồm năm phủ: phủ Bình Giang, phủ Ninh Giang, phủ Nam Sách, phủ Kinh Môn và phủ
Kiến Thuỵ.
2 Tình hình xã hội
– Trong các thế kỉ XVI – XIX, tình hình xã hội Hải Dương đã có những thay đổi gì?
– Tại sao tình hình xã hội Hải Dương luôn bất ổn trong các thế kỉ XVI – XIX?
Trong các thế kỉ XVI – XVIII, do nội chiến liên miên, nên tình hình xã hội Hải Dương
thường xuyên không ổn định. Đặc biệt, thời kì nội chiến Trịnh – Mạc (1533 – 1592), vì
Hải Dương là thủ phủ thứ hai của vương triều Mạc, nên vùng đất này cũng là nơi hứng
chịu nặng nề hậu quả của cuộc chiến. Nạn binh lửa khiến nhân dân điêu đứng.
Những năm cuối thế kỉ XVIII, phong trào khởi nghĩa nông dân chống lại chính
quyền phong kiến diễn ra khá mạnh mẽ, điển hình là cuộc khởi nghĩa của anh em
Nguyễn Tuyển, Nguyễn Cừ và Nguyễn Hữu Cầu.
Thời nhà Nguyễn, với vị trí quan trọng ở cửa ngõ phía Đông của Bắc Thành, nhà
Nguyễn đã chú trọng đầu tư xây dựng hệ thống thành luỹ dày đặc ở các phủ, huyện,
trấn lị Hải Dương. Việc tập trung xây đắp thành luỹ; nạn cướp bóc của hải tặc từ phía
7
biển Đông Bắc; những tác động của thiên tai, dịch bệnh,… đã khiến cho tình hình xã
hội Hải Dương luôn không ổn định.
II. TÌNH HÌNH KINH TẾ
1 Nông nghiệp
Kinh tế nông nghiệp có vai trò như thế nào trong nền kinh tế Hải Dương thế
kỉ XVI – XIX?
Trong các thế kỉ XVI – XVIII, do những bất ổn về chính trị và tình hình nội chiến liên
miên đã có nhiều tác động tiêu cực đến sự phát triển nông nghiệp của Hải Dương, nạn
mất mùa, đói kém diễn ra nhiều năm. Tuy nhiên, với những điều kiện tự nhiên thuận
lợi, con người cần cù, chịu khó, nên kinh tế nông nghiệp của vùng đất xứ Đông vẫn là
ngành kinh tế chủ đạo ở Hải Dương.
Hải Dương là vùng đất nổi tiếng về trồng lúa với những sản phẩm gạo thơm ngon
như: gạo tẻ thơm, gạo đỏ, gạo nếp cái hoa vàng. Bên cạnh đó, các sản phẩm trồng trọt
khác cũng rất phong phú như: khoai lang, khoai sọ, khoai nước, gia vị (hành, tỏi,
gừng,…), các loại quả (vải thiều, cam,…)…1
Trong thời kì này, tình trạng mua bán ruộng đất ngày càng phổ biến, thúc đẩy tầng
lớp đại địa chủ phát triển tại các địa phương của Hải Dương.
Hình 3. Lăng bà Bổi Lạng tại xã Bình Lãng,
huyện Tứ Kỳ
1
8
Nổi tiếng trong tầng lớp đại địa chủ ở
Hải Dương thế kỉ XVII là bà Bổi Lạng ở
làng Bình Lãng, huyện Tứ Kỳ, phủ Hạ
Hồng (nay là xã Bình Lãng, huyện Tứ Kỳ).
Nội dung văn bia tại lăng cho biết bà
Nguyễn Thị Trị làm giàu từ nghề buôn bán
gạo, khi thu được lãi, bà tậu ruộng, chăn
nuôi gia súc, trở thành người giàu có nhất
vùng: “Ruộng có hơn nghìn mẫu, tiền có
trên vạn xâu. Thóc lúa, gia súc nhiều đến
mức không đếm xuể”.
Sách Đại Nam nhất thống chí, quyển 17, ghi về quả cam đường tỉnh Hải Dương như sau: “Cam đường:
có một tên nữa là cam nhũ sản ở các xã Vũ Xá, Nhũ Tĩnh, Đồng Quang, huyện Tứ Kỳ và Lực Đáp,
Hoà Ung huyện Vĩnh Lại, quả nhỏ, vị ngọt và thơm, có lệ cống”.
Dưới triều Nguyễn, trấn Hải Dương vẫn là “xứ Đông phên giậu”, vì vậy, nhà nước rất
quan tâm đến phát triển kinh tế nông nghiệp, tập trung khai khẩn đất hoang, chia lại
ruộng đất.
Từ năm 1809 đến năm 1837, nhà Nguyễn đã cho đào các sông như: sông Cửu An,
sông Thiên Đức; cho khai rộng nhiều hệ thống sông ở Văn Giang, phủ Bình Giang và
cho đắp sửa hệ thống đê ở các huyện, phủ trong toàn trấn, đặc biệt là hệ thống đê ngăn
mặn vùng ven biển,… để phục vụ sản xuất nông nghiệp.
Kinh tế nông nghiệp của Hải Dương thế kỉ XIX đã có bước tiến mới là sản xuất theo
mùa trong năm (vụ chiêm và vụ mùa). Ngoài trồng lúa, các phủ của Hải Dương đều
căn cứ vào điều kiện đất đai, khí hậu để phát triển các cây rau màu đặc trưng khác
như: ngô, khoai, các loại đậu, các cây thuộc họ dưa, rau củ,…
Trong các thế kỉ XVI – XIX, sản xuất nông nghiệp luôn đóng vai trò chủ đạo trong
nền kinh tế của vùng đất Hải Dương.
2 Thủ công nghiệp
Điểm mới trong sự phát triển của kinh tế thủ công nghiệp tại Hải Dương
các thế kỉ XVI – XIX là gì?
Từ thế kỉ XVI đến đầu thế kỉ XIX, các nghề thủ công của Hải Dương tiếp tục phát
triển và dẫn đến sự ra đời của các làng nghề thủ công nổi tiếng: nghề làm giày da ở
các làng Phong Lâm, Văn Lâm, Trúc Lâm (Hoàng Diệu – huyện Gia Lộc); trung tâm
đúc đồng Đại Đồng (làng Đại Đồng – huyện Tứ Kỳ); làng mộc Đông Giao, Cúc Bồ; làng
chạm khắc đá Kính Chủ (Phạm Mệnh – thị xã Kinh Môn); nghề làm vàng bạc ở Châu
Khê (Thúc Kháng – huyện Bình Giang).
9
Hình 4, 5. Sản phẩm của nghệ nhân Châu Khê được trưng bày tại đình Kim Ngân,
phố Hàng Bạc, Hà Nội
Đặc biệt, nghề thủ công nổi tiếng nhất của Hải Dương thời kì này vẫn là nghề làm
gốm. Các làng gốm sứ nổi tiếng như: Chu Đậu, Hợp Lễ, làng Quao, làng gốm Hùng
Thắng (huyện Nam Sách) tiếp tục phát triển thịnh đạt, cung cấp sản phẩm cho thị
trường trong nước và ngoài nước.
Nghề chạm khắc gỗ ở Đông Giao
nổi tiếng trong các thế kỉ XVII – XIX.
Sự khéo léo của người thợ Đông Giao
đã in dấu ở rất nhiều công trình kiến
trúc nổi tiếng trên khắp mọi miền đất
nước, trong đó có các công trình
lăng tẩm của triều đình nhà Nguyễn
tại Huế.
Hình 6. Tượng Long Mã tại đình làng
Đông Giao, xã Lương Điền, huyện Cẩm Giàng
Những người thợ thủ công tài ba của Tam Lâm đã di cư ra Thăng Long, đem theo
nghề của làng, góp phần hình thành nên phố Hàng Giày, phố Hàng Da tại Kinh Kỳ.
Người thợ nhuộm làng Đan Loan cũng là những cư dân đầu tiên lập nên phố Hàng Đào
với nghề nhuộm điều đặc sắc.
10
Bên cạnh các nghề thủ công trên, ở Hải Dương thời kì này còn có một số nghề thủ
công khác cũng khá phát triển như: nghề dệt ở Cẩm Giàng, Gia Lộc, Ninh Giang,
Thanh Miện; nghề thêu ở Xuân Nẻo (huyện Tứ Kỳ); nghề làm bánh gai ở Ninh Giang;
nghề nấu rượu ở Phú Lộc (huyện Cẩm Giàng),...
Sự phát triển mạnh mẽ của các làng nghề thủ công truyền thống trong các thế kỉ
XVI – XIX đã thúc đẩy sự phát triển của kinh tế thương nghiệp, tạo cơ sở đưa đến sự
hình thành các phố nghề tại Hải Dương.
3 Thương nghiệp
Những biểu hiện nào chứng tỏ thương nghiệp ở Hải Dương phát triển
mạnh trong các thế kỉ XVI – XVIII?
Do những thuận lợi về giao thông, cùng với sự phát triển của nông nghiệp và thủ công
nghiệp, nhất là ở các thế kỉ XVII – XVIII, trong bối cảnh kinh tế thương nghiệp Đàng ngoài
phát triển mạnh, hoạt động thương nghiệp tại Hải Dương cũng có bước phát triển mới.
Từ thế kỉ XVI – XIX, hệ thống chợ ở Hải Dương đã hình thành ở khắp các địa
phương. Các làng xã hầu hết đều có chợ để trao đổi, mua bán hàng hoá. Với mạng
lưới đường sông ở Hải Dương như mắc cửi, liên hoàn từ tỉnh lị tới tận các làng xã xa
xôi, nối liền Hải Dương với các tỉnh lân cận nên đã tạo nhiều thuận lợi cho các hoạt
động vận chuyển, thông thương. Vì vậy, Hải Dương thời kì này đã trở thành trung tâm
thương nghiệp lớn ở khu vực đồng bằng Bắc Bộ với mặt hàng buôn bán chủ yếu là
thóc gạo. Bên cạnh đó, sông Kẻ Sặt ở tỉnh lị Hải Dương còn là nơi tập trung các loại
gỗ vận chuyển từ các tỉnh miền núi về theo đường sông. Hải Dương trên bến, dưới
thuyền và hoạt động thương nghiệp phát triển mạnh mẽ.
Hoạt động thương mại tại Đông Kiều phố rất sầm uất: hoạt động sản xuất thủ công
và buôn bán diễn ra tấp nập tại các phố và bến sông. Phố Hàng Giày là phố chuyên sản
xuất và kinh doanh các loại giầy dép da; Phố Hàng Bạc chủ yếu là chế tác và kinh doanh
vàng bạc; phố Hàng Đồng tập trung các cửa hàng kinh doanh một số mặt hàng chủ yếu
như: đỉnh, giá nến, chuỳ, chiêng, cồng… bằng đồng hoặc các đồ dùng bằng đồng khác
như chậu, mâm, nồi…; phố Hàng Lọng là nơi sản xuất và bán những chiếc lọng phục vụ
cho giới quan lại trong tỉnh,… Ngoài Đông Kiều phố, phủ Bình Giang, phủ Nam Sách,
khu vực bến sông Vân Dậu thuộc Mao Điền – Cẩm Giàng… cũng là những nơi phát
triển sầm uất bởi hoạt động thương mại.
11
Tư liệu
Theo những nghiên cứu của người Pháp đầu thế kỉ XX thì "Tỉnh lị Hải
Dương đã từng là một đô thị lớn thứ hai trong vùng châu thổ trước khi có sự
chiếm đóng của Pháp. Cho đến khi thiết lập Hải Phòng, đô thị Hải Dương là
một cảng chính của Bắc Kỳ".
Nguyễn Quang Ngọc (2010), Domea trong hệ thống thương mại Đàng Ngoài thế
kỉ XVII – XVIII, Viện Việt Nam học và Khoa học Phát triển, tr.24.
Hoạt động ngoại thương ở vùng đất Hải Dương thế kỉ XVII – XVIII phát triển với
các mặt hàng chính là sản phẩm nông nghiệp, thủ công nghiệp, đặc biệt là sản
phẩm gốm.
Bên cạnh thương cảng phố Hiến (Hưng Yên), thương cảng Domea thuộc xứ Đông
cũng là một thương cảng lớn. Một phần của thương cảng Domea gồm ngã ba sông Luộc
và sông Thái Bình thuộc địa phận Quý Cao ngày nay. Thương cảng này được người
phương Tây đánh giá là một địa danh quan trọng bậc nhất ở Đàng Ngoài, bởi từ đây họ
dễ dàng ngược lên phố Hiến, Thăng Long.
Hình 7. Bản đồ sông Đàng Ngoài thế kỉ XVII của công ti Đông Ấn Hà Lan
12
Hình 8. Bản đồ khu vực cảng Domea được xác định
Hệ thống tuyến đường thuỷ của Hải Dương nối với Thăng Long và thương cảng
phố Hiến (Hưng Yên) là một lợi thế thúc đẩy hoạt động ngoại thương của Hải Dương
thời kì này phát triển mạnh mẽ.
– Tín ngưỡng, tôn giáo Hải Dương trong các thế kỉ XVI – XIX có bước phát
triển mới như thế nào?
– Đánh giá bước phát triển mới của kinh tế thương nghiệp tại Hải Dương thế
kỉ XVII – XVIII.
III. TÌNH HÌNH VĂN HOÁ
1 Tín ngưỡng – tôn giáo
Tín ngưỡng, tôn giáo Hải Dương trong các thế kỉ XVI – XIX có bước phát triển
mới như thế nào?
Thế kỉ XVII – XVIII, bên cạnh các tín ngưỡng truyền thống tiếp tục được duy trì, đạo
Phật ở Hải Dương phát triển trong bối cảnh chung của cả nước là chấn hưng Phật giáo.
Nhiều ngôi chùa lớn được trùng tu tôn tạo như: chùa Giám (huyện Cẩm Giàng); chùa
Côn Sơn, chùa Thanh Mai (thành phố Chí Linh); chùa Động Ngọ (huyện Thanh Hà)…
đều được tôn tạo trong thời kì này. Phật giáo phát triển rộng trong dân chúng, tạo nên
triết lí sống của nhân dân.
13
Hình 9. Chùa Nhẫm Dương
(Duy Tân, thị xã Kinh Môn)
Thế kỉ XVII, Hải Dương trở thành chốn
tổ của thiền phái Tào Động. Thiền sư
Thuỷ Nguyệt Thông Giác tu tập tại
Trung Quốc, trở thành vị tổ thứ 36 của
thiền phái Tào Động. Trở về nước,
thiền sư tu ở chùa Thánh Quang, thôn
Nhẫm Dương, xã Duy Tân, huyện Kinh
Môn và trở thành thuỷ tổ của phái Tào
Động tại nước ta. Phái Tào Động phát triển ở
Hải Dương, sau đó lan toả vào Đàng Trong.
Đến triều Nguyễn, chính sách đối với Phật giáo bị hạn chế do việc đề cao Nho
giáo. Tuy nhiên, do sự tiếp nhận của nhân dân, nên Đạo Phật được phát triển sâu rộng
tới các làng xã ở Hải Dương. Hầu hết chùa ở các địa phương đều được trùng tu, tôn
tạo ở giai đoạn này.
Trong các thế kỉ XVI – XIX, tư tưởng tam giáo đồng nguyên và sự giao thoa với tín
ngưỡng dân gian tiếp tục được duy trì ở vùng đất xứ Đông.
Thiên chúa giáo
Thế kỉ XVI, Thiên chúa giáo từng bước được truyền vào vùng đất Hải Dương. Năm
1630, xứ đạo Kẻ Sặt (huyện Bình Giang) được thành lập, thu hút được hầu hết cư dân
của làng theo công giáo, đưa đến sự hình thành làng công giáo Kẻ Sặt.
Năm 1667, hai giáo phận Đàng
Ngoài và Đàng Trong được thiết lập ở
Việt Nam, Kẻ Sặt trở thành trung tâm
Thiên chúa giáo của địa phận Đông Bắc
ở Đàng Ngoài.
Hình 10. Nhà thờ giáo xứ Kẻ Sặt
14
Từ sau năm 1630, các xứ và họ đạo dần được hình thành ở các phủ, huyện trong
tỉnh. Nhiều nhà thờ đạo công giáo lớn được xây dựng trên vùng đất Hải Dương trong
các thế kỉ XVII – XIX như: nhà thờ Kẻ Sặt, nhà thờ Hải Dương (đường Trần Hưng Đạo,
thành phố Hải Dương), nhà thờ Mỹ Động (xã Hiến Thành, thị xã Kinh Môn). Trong suốt
quá trình phát triển, đồng bào Công giáo ở các xứ đạo Hải Dương luôn thể hiện tinh
thần yêu nước, thực hiện lối sống “tốt đời đẹp đạo”.
2 Giáo dục, khoa cử
Giáo dục của Hải Dương trong các thế kỉ XVI – XIX đã đạt những thành
tựu như thế nào?
Dưới triều Mạc (1527 – 1592), giáo dục được chú trọng phát triển ở cả kinh đô
Thăng Long và vùng đất Dương Kinh – kinh đô thứ hai của vương triều. Bên cạnh các
trường học tại kinh đô, triều đình còn cho xây dựng và mở rộng hệ thống trường công
ở cấp phủ. Vùng đất Dương Kinh có nhiều trường học, nên giáo dục ở vùng đất Hải Dương
rất phát triển. Triều Mạc tổ chức 22 khoa thi, lấy đỗ 485 người, trong đó Hải Dương có
122 người.
Nguyễn Thị Duệ còn có tên là
Nguyễn Thị Ngọc Du, Nguyễn Thị
Ngọc Toàn, hiệu là Diệu Huyền,
tên vua ban là Tinh Phi (tức Sao
Sa). Bà sinh vào cuối thế kỉ XVI,
trong một gia đình hiếu học. Bà
đỗ tiến sĩ dưới triều Mạc và là nữ
tiến sĩ đầu tiên trong lịch sử
phong kiến Việt Nam.
Hình 11. Tinh phi cổ tháp được phục dựng
năm 2018
Triều Lê trung hưng (1533 – 1789), nhà nước tiếp tục duy trì và củng cố hệ thống
trường học các cấp và mở rộng hệ thống trường công tới cấp huyện. Bên cạnh đó, hệ
thống trường học, lớp học tư của các danh nho được phát triển rộng đến các làng xã.
15
Trong 68 khoa thi (từ khoa thi đầu tiên năm 1580 đến khoa thi cuối cùng năm 1787),
triều đình lấy đỗ 717 tiến sĩ, trong đó có 137 tiến sĩ người Hải Dương.
Từ thế kỉ XIX, triều Nguyễn đặt chức quan trông coi việc học ở cả cấp tỉnh, cấp phủ
và cấp huyện. Qua 27 khoa thi Hội (từ khoa thi đầu tiên năm 1822 đến khoa thi cuối
cùng năm 1884), triều đình lấy đỗ 368 Phó bảng và Bảng nhãn trong đó có 16 người
Hải Dương (xếp hàng thứ 9 trong số 19 trấn, tỉnh).
1. Vẽ sơ đồ tư duy thể hiện những nét chính về vùng đất Hải Dương trong
các thế kỉ XVI – XIX.
2. Hoàn thành bảng thành tựu tiêu biểu về văn hoá – giáo dục của Hải Dương
trong các thế kỉ XVI – XIX.
Lĩnh vực
Thành tựu
1. Tìm hiểu, giới thiệu về địa danh và tình hình xã hội của địa phương em (huyện)
trong các thế kỉ XVI – XIX.
2. Sưu tầm chuyện kể về những nhà khoa cử trong các thế kỉ XVI – XIX tại địa
phương em (làng, xã, huyện).
16
CHU Y ÊN Đ Ề 2
THÀNH ĐÔNG – BIỂU TƯỢNG CỦA
HẢI DƯƠNG
• Trình bày được sự hình thành của Thành Đông tại trung tâm trấn Hải Dương.
• Đánh giá được vai trò của Thành Đông đối với lịch sử Hải Dương.
• Xác định, giới thiệu được vị trí của Thành Đông xưa trên vị trí địa lí của thành
phố Hải Dương hiện nay.
Logo của thành phố Hải Dương
17
Năm 1802, nhà Nguyễn được thành lập trong bối cảnh các nước phương Tây
đang ráo riết thực hiện xâm lược thuộc địa, vì vậy phòng thủ đất nước là nhiệm vụ
được các vị vua triều Nguyễn đặt lên hàng đầu, trong đó, giải pháp đầu tiên là xây
dựng, củng cố các thành trì tại kinh đô và các địa phương. Ngay sau khi lên ngôi, vua
Gia Long cho đặt Bắc Thành gồm 11 trấn phía bắc, Hải Dương là một trong số năm
trấn của Bắc Thành và được coi là vùng đất trọng yếu để trấn giữ mặt biển phía Đông
của kinh thành.
Việc Thành Đông được thiết lập có ý nghĩa như thế nào đến sự phát triển của vùng
đất Xứ Đông?
1 Lịch sử hình thành Thành Đông (trấn thành Hải Dương)
Thành Đông được xây dựng như thế nào?
Năm 1804, vua Gia Long cho dời lị sở của trấn Hải Dương từ Mao Điền
(Cẩm Giàng) về Hàm Giang đồng thời cho xây dựng thành trấn của quốc gia tại nơi
này. Trấn thủ Hải Dương Trần Công Hiến là người thực hiện lệnh di chuyển trấn sở,
cũng là người khởi công xây dựng trấn thành Hải Dương.
Hàm Giang thời kì này là vùng đất nằm ở vị trí ngã ba sông Kẻ Sặt và sông
Hàm Giang (nay là sông Thái Bình), thuộc địa phận xã Hàm Giang, Hàm Thượng, Bình Lao,
tổng Hàm Giang, huyện Cẩm Giàng thời Nguyễn. Vùng đất này là trung tâm của trấn
Hải Dương (tỉnh Hải Dương từ năm 1831). Ngã ba sông Thái Bình và sông Kẻ Sặt là giao
lộ quan trọng, nằm trên tuyến đường thuỷ huyết mạch, nối liền cửa biển Hải Phòng,
Thái Bình đến Thăng Long. Vùng đất này chính là khu vực trung tâm của thành phố
Hải Dương hiện nay.
18
Tư liệu
“Đất lệch về một bên ở xứ Bắc Kỳ dựa núi, bọc biển, hình thế vững vàng;
núi cao có núi Yên Tử, Đông Triều; sông lớn có Hàm Giang, Lục Đầu. Mặt
phía nam nội rộng đất bằng, đường sông như mắc cửi; mặt đông bắc núi cao
biển rộng, thế đất hiểm trở, về việc phòng bị quan hệ rất nhiều. Đến như
Nam Triệu, Đồ Sơn là khu sát biển, phía đông liền với Quảng Yên, khống chế
lẫn nhau, thực là đất quan yếu ở bờ cõi mặt biển”.
Quốc sử quán triều Nguyễn, Đại Nam nhất thống chí, tập 3,
Nhà xuất bản Thuận Hoá, Huế, tr.451.
Sự kiện đặt trấn sở mới và xây dựng thành trì phòng thủ tại Hàm Giang năm 1804
đã đánh dấu cột mốc quan trọng và đặt nền móng cho sự ra đời và phát triển của
Thành Đông, thị xã Hải Dương, thành phố Hải Dương sau này.
2 Cấu trúc của Thành Đông
Thành Hải Dương vừa là nơi ở và làm việc của bộ máy quan lại cấp tỉnh, vừa là một
đồn binh quan trọng trấn giữ miền biên ải phía đông; là nơi tập hợp lực lượng binh lính
để trấn áp các cuộc nổi dậy của nhân dân và là pháo đài phòng thủ trước các cuộc
tấn công xâm lược của thực dân Pháp.
Trung tâm của Thành Đông
thuộc ngã tư giao cắt đường
Nguyễn Trãi – Hoàng Hoa Thám,
Nguyễn Trãi – Tuệ Tĩnh hiện
nay. Cửa bắc của thành là cây
cầu bắc qua Hào Thành trên
đường Chi Lăng (sát công ti
Dược phẩm). Cửa đông ở vào
khoảng giữa Bưu điện tỉnh và
Ngân hàng Công Thương, nhìn
Hình 1. Bản đồ xác định vị trí của Thành Đông
ra đường Phạm Hồng Thái.
Cửa tây còn di tích cây cầu bắc qua Hào Thành trên đường Tuệ Tĩnh. Cửa nam
thuộc khu vực sau Sở Công an trên đường Nguyễn Trãi ngày nay.
19
Thành Hải Dương được xây dựng theo kiến trúc của thành Hà Nội, Nam Định, Bắc Ninh,
Sơn Tây,… cùng thời kì, được bao bọc bởi ba vòng thành với hệ thống thành cao, hào
sâu bảo vệ. Hào thành nối với sông Kẻ Sặt và sông Thái Bình cũng chính là đường
thuỷ quan trọng để tiếp tế lương thực, vũ khí cho binh sĩ trong thành; là đường liên lạc
nối Thăng Long và các trấn thành khác.
Cấu trúc của Thành Đông gồm thành nội; hệ thống công đường và hệ thống kho.
Thành nội có hình lục giác đều, có 6 góc thành nhô ra phía ngoài. Bên trong thành nội có
xây dựng hệ thống công đường (là nơi làm việc của bộ máy quan lại cấp tỉnh). Hệ thống
kho gồm: 12 kho thóc, 2 kho tiền, 1 kho muối, 1 kho thuốc súng, 1 kho binh khí,...2
Thành Đông có 4 cửa (Bắc, Nam, Đông, Tây), ở phía ngoài 4 cổng thành được đắp thêm
4 thành phụ gọi là Dương Mã thành (thành ngoại). Phía ngoài Dương Mã thành lại có
một lớp thành đất bao bọc xung quanh gọi là la thành. Ngăn cách giữa mỗi lớp thành là
một hệ thống hào rộng và sâu, được nối thông với sông Kẻ Sặt và sông Thái Bình.
Hình 2. Toàn cảnh Thành Đông xưa
Hình 3. Một cổng của Thành Đông
Với cấu trúc kiên cố, thành Hải Dương giữ vai trò là một pháo đài phòng thủ, một đồn
binh trọng yếu có nhiệm vụ trấn giữ vùng biên ải phía Đông của kinh thành Thăng Long.
3 Vai trò của Thành Đông với lịch sử Hải Dương
Thành Đông có vai trò như thế nào đối với lịch sử, văn hoá Hải Dương?
2
20
Viện Sử học Việt Nam (1998), Khâm Định Việt sử Thông giám cương mục, tập 13, tr.187.
Cùng với vai trò là một trấn thành, Thành Đông cũng là một trung tâm hành chính –
chính trị, nơi ở và nơi làm việc của bộ máy quan lại cấp tỉnh của trấn Hải Dương (từ
năm 1804 – 1830) và tỉnh Hải Dương sau năm 1831.
Trên cơ sở yếu tố “đô” được thiết lập và củng cố, đã đưa đến sự xuất hiện yếu tố
“thị”. Việc xây dựng thành Hải Dương đã thúc đẩy, đưa đến sự tập trung cư dân ở khu
vực ngoài thành, ven sông Kẻ Sặt, hình thành nên một trung tâm sản xuất và buôn bán
hàng hoá, gọi là Đông Kiều phố. Thành Hải Dương và Đông Kiều phố chính là các yếu
tố thiết lập nên đô thị cổ Hải Dương, trung tâm của tỉnh Hải Dương sau này.
Hình 4. Lược đồ Đông Kiều phố
Đông Kiều phố là một khu dân cư sinh sống và buôn bán ở ven sông Kẻ Sặt (phía
Đông của Thành Đông) gồm các phố cổ như: phố Hàng Giày (nay là phố Sơn Hoà); phố
Hàng Bạc (nay là Xuân Đài); phố Hàng Đồng (nay là Đồng Xuân); phố Hàng Lọng (nay
là Tuy An); phố Đông Thuần (nay là Tuy Hoà); phố Đông Mỹ (nay là Bùi Thị Cúc); phố
chợ (nay là Ngân Sơn); phố Đông Thị và Đông Giàng (nay là Quang Trung); phố Đông Môn
(nay là Phạm Hồng Thái). Hoạt động kinh tế chính tại Đông Kiều phố là thủ công
nghiệp và thương nghiệp. Đông Kiều phố đã trở thành trung tâm thương nghiệp lớn ở
khu vực đồng bằng Bắc bộ.
21
Trấn thành Hải Dương được xây dựng đã đánh dấu sự ra đời của một trung tâm
hành chính, chính trị, quân sự của tỉnh. Qua tiến trình lịch sử, Thành Đông đã trở thành
biểu tượng lịch sử, văn hoá của vùng đất Hải Dương.
Hình 5. Biểu tượng Thành Đông tại cửa ngõ
thành phố Hải Dương
Hình 6. Trung tâm thành phố Hải Dương
Hình 7. Chương trình “Ánh sáng Thành Đông” chào mừng
thành phố Hải Dương lên đô thị loại I năm 2019
Kết nối di sản
Cùng với công cuộc xây dựng thành Hải Dương, nhà nước phong kiến đã xây
dựng các công trình văn hoá, giáo dục khác như: Trường học tỉnh Hải Dương
thuộc địa phận hai xã Hàm Giang và Bình Lao; miếu Hội Đồng trên địa phận xã
Hàm Thượng thờ hệ thống thần linh ở địa phương; đàn Xã Tắc trên địa phận xã
Hàm Giang thờ thần Đất và thần Lúa; miếu Thành Hoàng trên địa phận xã Hàm Thượng
thờ vị thần giữ thành… Các công trình này nằm ngoài thành, tạo thành một vành đai
bao quanh thành và phục vụ cho các nghi lễ hằng năm của quan quân và nhân dân
địa phương.
22
1. Trình bày những nét chính về sự ra đời của Thành Đông và Đông Kiều phố.
2. Đánh giá vai trò của Thành Đông đối với lịch sử, văn hoá Hải Dương.
Đóng vai một hướng dẫn viên du lịch, giới thiệu về lịch sử Thành Đông.
23
CH UY ÊN Đ Ề 3
DẤU ẤN VĂN HOÁ PHƯƠNG TÂY
(THẾ KỈ XVI – XX) TẠI HẢI DƯƠNG
• Nhận diện được những dấu ấn văn hoá phương Tây (về văn hoá, giáo dục,
kiến trúc, giao thông) tại Hải Dương từ thế kỉ XVI đến đầu thế kỉ XX.
• Nhận xét được giá trị của sự tiếp thu văn hoá phương Tây có chọn lọc và cải
biến của nhân dân Hải Dương.
• Trải nghiệm, tìm hiểu và giới thiệu được một số những thành tựu văn hoá tiêu
biểu của Hải Dương có ảnh hưởng từ phương Tây.
Cầu Phú Lương, thành phố Hải Dương
24
Trong các thế kỉ XVI – XX, qua quá trình giao lưu kinh tế và truyền đạo của các
nước phương Tây, đặc biệt là công cuộc xâm lược của nước Pháp, sự giao thoa văn
hoá đã diễn ra mạnh mẽ. Các yếu tố văn hoá phương Tây đã du nhập vào Việt Nam.
Trên cơ sở nền văn hoá bản địa, Việt Nam đã tiếp thu văn hoá phương Tây có chọn lọc
và cải biến.
Hãy chia sẻ một số dấu ấn văn hoá phương Tây trong các thế kỉ XVI – XX tại
Hải Dương mà em biết.
1 Về chữ viết và giáo dục
Dấu ấn về chữ viết và giáo dục phương Tây trong các thế kỉ XVI – XX
được lưu lại như thế nào tại Hải Dương?
Trong những năm cuối thế kỉ XIX, bên cạnh nền giáo dục phong kiến, dạy và học
chữ Hán, chữ Nôm, Hải Dương bắt đầu xuất hiện việc học tiếng Pháp và xuất hiện các
cơ sở giáo dục dạy tiếng Pháp.
Năm 1897, một số quan chức tỉnh Hải Dương cùng với một số quan chức, trí thức
người Pháp đã thành lập Hội Tương trợ giáo dục tỉnh Hải Dương (gọi là Hội Trí tri). Hội
đã lập ra một trường tư thục (Tân học đường) gọi là Trường Trí tri tại hội sở của Hội. Đây
là trường theo tân học đầu tiên của tỉnh, dạy chữ Quốc ngữ và tiếng Pháp cho những người
lớn tuổi đã biết chữ Hán. Minh chứng về di tích này là tấm bia Hội Trí tri Hải Dương trong
khuôn viên của Trường Trung học cơ sở Ngô Gia Tự, thành phố Hải Dương hiện nay.
25
Mặt trước của văn bia được khắc bằng
chữ Hán, có nội dung chính như sau: Tỉnh
Hải Dương ngày xưa gọi là Hải Đông, là
một trọng trấn của cả nước. Hải Đông vốn
có truyền thông hiếu học lâu đời. Từ những
người vốn được ăn học dựng lên một toà
nhà mới (tân học đường), gọi là Trí tri học
sở. Mục đích của hội Trí tri là khuyến khích
người học, đầu tiên là học để biết, rồi biết
tường tận do được biết nguyên lí sự vật…
Hình 1. Mặt trước tấm bia
Hội Trí Tri (tại trường Trung học cơ sở
Ngô Gia Tự , thành phố Hải Dương)
Mặt sau của bia được khắc bằng chữ Pháp và
chữ Quốc ngữ về những thành viên của Hội: “Hội
hỗ trợ giáo dục tỉnh Hải Dương, thành lập năm
1897. Chủ tịch danh dự của hội là vị Công sứ thị
trưởng thành phố But-xê (ALFRED - BOUCHET)…”.
Tên của 11 hội viên danh dự gồm những
người Pháp, người Việt có chức sắc còn đương
chức (Công sứ Bút-xê, Tổng đốc Nguyễn Văn Bân,
Án sát Nghiêm Thuý Ưng, Thư kí thành phố
Văng-đec-ca, Bác sĩ Đờ-vi) và những người đã
Hình 2. Mặt sau tấm bia Hội Trí tri
nghỉ hưu (Công sứ Đơ-vi, Tổng đốc Từ Đạm, Tuần
(tại trường Trung học cơ sở
Ngô Gia Tự, thành phố Hải Dương) phủ Nguyễn Huy Tưởng).
Đầu thế kỉ XX, chính quyền thuộc địa cho xây dựng một Trường Tiểu học Pháp –
Việt (tức trường Nam Tiểu học tại vị trí Trường Tiểu học Tô Hiệu ngày nay) và Trường
Pháp – Việt ở Ninh Giang và Trường Nữ Tiểu học Hải Dương (nay là Trường Tiểu học
Võ Thị Sáu).
26
Từ năm 1905, chính quyền đô hộ Pháp thực hiện chương trình giáo dục ở Việt Nam
thuộc địa: mở hệ thống Trường Tiểu học Pháp – Việt tại các tỉnh lị và phủ huyện lớn,
chương trình Tiểu học được học bằng tiếng Pháp. Học hết Tiểu học, học sinh sẽ vào học
tại trường Quốc học (Huế) hay trường Bảo hộ (Hà Nội).
Trường Nam Tiểu học (còn gọi là
Trường Tiểu học Pháp – Việt).
Trường do cả giáo viên người Pháp
và giáo viên người Việt giảng dạy.
Học sinh được học bằng tiếng Pháp
theo chương trình đào tạo của
chính quyền Pháp.
Hình 3. Một góc Trường Nam Tiểu học
Hải Dương xưa (từng tồn tại ở Trường
Tiểu học Tô Hiệu, thành phố Hải Dương)
Các trường học Pháp – Việt tuy phục vụ cho mục đích cai trị của Pháp, song đã
đào tạo được đội ngũ trí thức mới, tạo nên biến chuyển lớn trong giáo dục và xã hội
Hải Dương. Bên cạnh đó, cũng qua giáo dục và giao thoa văn hoá, cách ăn mặc theo
Âu phục và cắt tóc ngắn đã dần phổ biến tại Hải Dương.
2 Thiết kế đô thị, giao thông
Dấu ấn văn hoá phương Tây về thiết kế đô thị, giao thông ở Hải Dương
được thể hiện như thế nào?
Để phục vụ quá trình khai thác thuộc địa, Pháp đã tập trung xây dựng hệ thống
tuyến đường sắt và đường bộ. Nhiều tuyến đường quan trọng của Hải Dương được
xây dựng trong thời kì này như: đường sắt và đường bộ (đường thuộc địa số 5) Hà Nội –
Hải Phòng (đoạn qua địa bàn Hải Dương dài 45...
SỞ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
LƯƠNG VĂN VIỆT (Tổng Chủ biên)
ĐỖ DUY HƯNG (Chủ biên)
NGUYỄN THANH THUỶ – PHẠM VĂN KHANH – NGUYỄN NGỌC KHÁNH
7
8
Mục lục
3
4
2
Chuyên đề 1
Vùng đất Hải Dương từ thế kỉ XVI đến đầu thế kỉ XIX
Chuyên đề 2
Thành Đông – biểu tượng của Hải Dương
17
Chuyên đề 3
Dấu ấn văn hoá phương Tây (Thế kỉ XVI – XX)
tại Hải Dương
24
Chuyên đề 4
Đặc điểm chung địa hình và ảnh hưởng của
sự phân hoá địa hình đối với tự nhiên và
khai thác kinh tế
Chuyên đề 5
Sự đa dạng sinh học và các biện pháp bảo vệ
đa dạng sinh học tại Hải Dương
48
Chuyên đề 6
Văn học viết Hải Dương
58
5
33
Lời nói đầu
Các em học sinh thân mến!
Tài liệu Giáo dục địa phương tỉnh Hải Dương – Lớp 8 sẽ tiếp tục đồng
hành cùng các em học sinh trong việc tiếp cận và khám phá các vấn đề
về văn hoá, lịch sử truyền thống; địa lí, kinh tế, hướng nghiệp; chính trị –
xã hội, môi trường của xứ Đông xưa, Hải Dương nay.
Với 06 chuyên đề được Ban Biên soạn lựa chọn kĩ lưỡng, bám sát mục
tiêu, yêu cầu của nội dung giáo dục địa phương, các em sẽ có cơ hội, trải
nghiệm, tìm hiểu vùng đất Hải Dương từ thế kỉ XVI đến đầu thế kỉ XIX,
Thành Đông – biểu tượng của Hải Dương; dấu ấn văn hoá phương Tây
(thế kỉ XVI – XX) tại Hải Dương; đặc điểm chung địa hình và ảnh hưởng
của sự phân hoá địa hình đối với tự nhiên và khai thác kinh tế; sự đa dạng
sinh học và các biện pháp bảo vệ đa dạng sinh học tại Hải Dương; văn học
viết Hải Dương.
Thông qua các hoạt động khám phá tri thức, các em có điều kiện phát
huy, phát triển một số năng lực cốt lõi và phẩm chất chủ yếu cần có của
học sinh trung học cơ sở. Qua đó, bồi dưỡng niềm tự hào, tình yêu quê
hương, ý thức giữ gìn, bảo tồn và phát huy các giá trị truyền thống của quê
hương; vận dụng những điều đã học vào giải quyết những vấn đề nảy sinh
từ thực tế của quê hương, góp phần bảo vệ môi trường tự nhiên tại tỉnh
Hải Dương nói riêng, cả nước nói chung.
Trong quá trình biên soạn, tài liệu không tránh khỏi những thiếu sót.
Rất mong nhận được ý kiến đóng góp của các các thầy, cô giáo và các em
học sinh để Tài liệu giáo dục địa phương tỉnh Hải Dương – Lớp 8 ngày
càng hoàn thiện hơn.
Ban Biên soạn
3
Hướng dẫn sử dụng tài liệu
8
Phần em có biết: là những thông tin bổ trợ để giải thích, mở rộng,
làm rõ nội dung tuyến chính.
4
CHU Y ÊN Đ Ề 1
VÙNG ĐẤT HẢI DƯƠNG
TỪ THẾ KỈ XVI ĐẾN ĐẦU THẾ KỈ XIX
• Trình bày được sự phát triển của xã hội, kinh tế, văn hoá Hải Dương từ thế kỉ
XVI đến thế kỉ XIX.
• Nhận xét được sự phát triển của kinh tế, văn hoá của Hải Dương trong lịch
sử dân tộc cùng giai đoạn.
• Tìm hiểu, giới thiệu được một số di tích lịch sử – văn hoá; thành tựu văn hoá;
nghề thủ công tiêu biểu của Hải Dương trong giai đoạn này.
Đền thờ Tiến sĩ Nguyễn Thị Duệ, thành phố Chí Linh
5
Trong các thế kỉ XVI – XIX, vùng đất Hải Dương có nhiều biến động về
văn hoá – kinh tế, xã hội. Hãy chia sẻ hiểu biết của em về những thay đổi của
vùng đất Hải Dương từ thế kỉ XVI – XIX.
I. HÀNH CHÍNH VÀ XÃ HỘI
1 Hành chính vùng đất Hải Dương
Trong các thế kỉ XVI – XIX, hành chính vùng đất Hải Dương có những chuyển
biến gì?
Từ thời nhà Mạc đến thời Tây Sơn, hành chính vùng đất Hải Dương không có nhiều
thay đổi, tên phủ, huyện cơ bản được giữ nguyên theo bản đồ Hồng Đức vẽ năm 1490:
Thừa tuyên (xứ, đạo, trấn) Hải Dương gồm bốn phủ: Thượng Hồng, Hạ Hồng, Nam Sách
và Kinh Môn.
Trong giai đoạn này, phủ Thượng Hồng có ba huyện (Đường An, Đường Hào và
Cẩm Giàng); phủ Hạ Hồng có bốn huyện (Gia Phúc, Tứ Kỳ, Vĩnh Lại và Thanh Miện); phủ
Nam Sách có bốn huyện (Thanh Hà, Tân Minh, Thanh Lâm và Chí Linh); phủ Kinh Môn
có bảy huyện (Hiệp Sơn, Đông Triều, An Lão, Nghi Dương, Thủ Đường, Kim Thành và
An Dương).
Sau khi lên năm chính quyền (từ năm
1527), nhà Mạc đã xây dựng kinh đô tại
quê hương (làng Cổ Trai, huyện Nghi
Dương, phủ Kinh Môn, trấn Hải Dương
(nay thuộc huyện Kiến Thuỵ, Hải Phòng).
Dương Kinh thuộc vùng đất Hải Dương
xưa đã trở thành trung tâm chính trị,
kinh tế, văn hoá lớn của nước ta trong
thế kỉ XVI.
6
Hình 1. Dấu tích cung điện Dương Kinh tại
Cổ Trai (nay thuộc xã Ngũ Đoan,
huyện Kiến Thuỵ, Hải Phòng)
Thời nhà Nguyễn, trong những năm 1802 – 1830, Hải Dương là một trong 23 trấn
của cả nước, gồm bốn phủ Thượng Hồng, Hạ Hồng, Kinh Môn và Nam Sách.
Phủ Thượng Hồng thời nhà
Nguyễn gồm ba huyện (Cẩm Giàng,
Đường Hào, Đường An); phủ Hạ Hồng
gồm bốn huyện (Tứ Kỳ, Vĩnh Lại,
Thanh Miện, Gia Lộc); phủ Kinh Môn
gồm bảy huyện (An Lão, An Dương,
Thuỷ Đường, Nghi Dương, Đông Triều,
Kim Thành, Giáp Sơn); phủ Nam Sách
Hình 2. Mộc bản sách “Đại Nam thực lục chính
biên” ghi chép về tên gọi trấn Hải Dương
dưới triều vua Gia Long gồm bốn phủ, 18 huyện
gồm bốn huyện (Chí Linh, Thanh Lâm,
Thanh Hà, Tiên Minh).
Từ năm 1831, trấn Hải Dương được đổi thành tỉnh Hải Dương (hay còn gọi là tỉnh
Đông), đứng đầu tỉnh là quan Tổng đốc. Trong những năm 1831 – 1887, Hải Dương
gồm năm phủ: phủ Bình Giang, phủ Ninh Giang, phủ Nam Sách, phủ Kinh Môn và phủ
Kiến Thuỵ.
2 Tình hình xã hội
– Trong các thế kỉ XVI – XIX, tình hình xã hội Hải Dương đã có những thay đổi gì?
– Tại sao tình hình xã hội Hải Dương luôn bất ổn trong các thế kỉ XVI – XIX?
Trong các thế kỉ XVI – XVIII, do nội chiến liên miên, nên tình hình xã hội Hải Dương
thường xuyên không ổn định. Đặc biệt, thời kì nội chiến Trịnh – Mạc (1533 – 1592), vì
Hải Dương là thủ phủ thứ hai của vương triều Mạc, nên vùng đất này cũng là nơi hứng
chịu nặng nề hậu quả của cuộc chiến. Nạn binh lửa khiến nhân dân điêu đứng.
Những năm cuối thế kỉ XVIII, phong trào khởi nghĩa nông dân chống lại chính
quyền phong kiến diễn ra khá mạnh mẽ, điển hình là cuộc khởi nghĩa của anh em
Nguyễn Tuyển, Nguyễn Cừ và Nguyễn Hữu Cầu.
Thời nhà Nguyễn, với vị trí quan trọng ở cửa ngõ phía Đông của Bắc Thành, nhà
Nguyễn đã chú trọng đầu tư xây dựng hệ thống thành luỹ dày đặc ở các phủ, huyện,
trấn lị Hải Dương. Việc tập trung xây đắp thành luỹ; nạn cướp bóc của hải tặc từ phía
7
biển Đông Bắc; những tác động của thiên tai, dịch bệnh,… đã khiến cho tình hình xã
hội Hải Dương luôn không ổn định.
II. TÌNH HÌNH KINH TẾ
1 Nông nghiệp
Kinh tế nông nghiệp có vai trò như thế nào trong nền kinh tế Hải Dương thế
kỉ XVI – XIX?
Trong các thế kỉ XVI – XVIII, do những bất ổn về chính trị và tình hình nội chiến liên
miên đã có nhiều tác động tiêu cực đến sự phát triển nông nghiệp của Hải Dương, nạn
mất mùa, đói kém diễn ra nhiều năm. Tuy nhiên, với những điều kiện tự nhiên thuận
lợi, con người cần cù, chịu khó, nên kinh tế nông nghiệp của vùng đất xứ Đông vẫn là
ngành kinh tế chủ đạo ở Hải Dương.
Hải Dương là vùng đất nổi tiếng về trồng lúa với những sản phẩm gạo thơm ngon
như: gạo tẻ thơm, gạo đỏ, gạo nếp cái hoa vàng. Bên cạnh đó, các sản phẩm trồng trọt
khác cũng rất phong phú như: khoai lang, khoai sọ, khoai nước, gia vị (hành, tỏi,
gừng,…), các loại quả (vải thiều, cam,…)…1
Trong thời kì này, tình trạng mua bán ruộng đất ngày càng phổ biến, thúc đẩy tầng
lớp đại địa chủ phát triển tại các địa phương của Hải Dương.
Hình 3. Lăng bà Bổi Lạng tại xã Bình Lãng,
huyện Tứ Kỳ
1
8
Nổi tiếng trong tầng lớp đại địa chủ ở
Hải Dương thế kỉ XVII là bà Bổi Lạng ở
làng Bình Lãng, huyện Tứ Kỳ, phủ Hạ
Hồng (nay là xã Bình Lãng, huyện Tứ Kỳ).
Nội dung văn bia tại lăng cho biết bà
Nguyễn Thị Trị làm giàu từ nghề buôn bán
gạo, khi thu được lãi, bà tậu ruộng, chăn
nuôi gia súc, trở thành người giàu có nhất
vùng: “Ruộng có hơn nghìn mẫu, tiền có
trên vạn xâu. Thóc lúa, gia súc nhiều đến
mức không đếm xuể”.
Sách Đại Nam nhất thống chí, quyển 17, ghi về quả cam đường tỉnh Hải Dương như sau: “Cam đường:
có một tên nữa là cam nhũ sản ở các xã Vũ Xá, Nhũ Tĩnh, Đồng Quang, huyện Tứ Kỳ và Lực Đáp,
Hoà Ung huyện Vĩnh Lại, quả nhỏ, vị ngọt và thơm, có lệ cống”.
Dưới triều Nguyễn, trấn Hải Dương vẫn là “xứ Đông phên giậu”, vì vậy, nhà nước rất
quan tâm đến phát triển kinh tế nông nghiệp, tập trung khai khẩn đất hoang, chia lại
ruộng đất.
Từ năm 1809 đến năm 1837, nhà Nguyễn đã cho đào các sông như: sông Cửu An,
sông Thiên Đức; cho khai rộng nhiều hệ thống sông ở Văn Giang, phủ Bình Giang và
cho đắp sửa hệ thống đê ở các huyện, phủ trong toàn trấn, đặc biệt là hệ thống đê ngăn
mặn vùng ven biển,… để phục vụ sản xuất nông nghiệp.
Kinh tế nông nghiệp của Hải Dương thế kỉ XIX đã có bước tiến mới là sản xuất theo
mùa trong năm (vụ chiêm và vụ mùa). Ngoài trồng lúa, các phủ của Hải Dương đều
căn cứ vào điều kiện đất đai, khí hậu để phát triển các cây rau màu đặc trưng khác
như: ngô, khoai, các loại đậu, các cây thuộc họ dưa, rau củ,…
Trong các thế kỉ XVI – XIX, sản xuất nông nghiệp luôn đóng vai trò chủ đạo trong
nền kinh tế của vùng đất Hải Dương.
2 Thủ công nghiệp
Điểm mới trong sự phát triển của kinh tế thủ công nghiệp tại Hải Dương
các thế kỉ XVI – XIX là gì?
Từ thế kỉ XVI đến đầu thế kỉ XIX, các nghề thủ công của Hải Dương tiếp tục phát
triển và dẫn đến sự ra đời của các làng nghề thủ công nổi tiếng: nghề làm giày da ở
các làng Phong Lâm, Văn Lâm, Trúc Lâm (Hoàng Diệu – huyện Gia Lộc); trung tâm
đúc đồng Đại Đồng (làng Đại Đồng – huyện Tứ Kỳ); làng mộc Đông Giao, Cúc Bồ; làng
chạm khắc đá Kính Chủ (Phạm Mệnh – thị xã Kinh Môn); nghề làm vàng bạc ở Châu
Khê (Thúc Kháng – huyện Bình Giang).
9
Hình 4, 5. Sản phẩm của nghệ nhân Châu Khê được trưng bày tại đình Kim Ngân,
phố Hàng Bạc, Hà Nội
Đặc biệt, nghề thủ công nổi tiếng nhất của Hải Dương thời kì này vẫn là nghề làm
gốm. Các làng gốm sứ nổi tiếng như: Chu Đậu, Hợp Lễ, làng Quao, làng gốm Hùng
Thắng (huyện Nam Sách) tiếp tục phát triển thịnh đạt, cung cấp sản phẩm cho thị
trường trong nước và ngoài nước.
Nghề chạm khắc gỗ ở Đông Giao
nổi tiếng trong các thế kỉ XVII – XIX.
Sự khéo léo của người thợ Đông Giao
đã in dấu ở rất nhiều công trình kiến
trúc nổi tiếng trên khắp mọi miền đất
nước, trong đó có các công trình
lăng tẩm của triều đình nhà Nguyễn
tại Huế.
Hình 6. Tượng Long Mã tại đình làng
Đông Giao, xã Lương Điền, huyện Cẩm Giàng
Những người thợ thủ công tài ba của Tam Lâm đã di cư ra Thăng Long, đem theo
nghề của làng, góp phần hình thành nên phố Hàng Giày, phố Hàng Da tại Kinh Kỳ.
Người thợ nhuộm làng Đan Loan cũng là những cư dân đầu tiên lập nên phố Hàng Đào
với nghề nhuộm điều đặc sắc.
10
Bên cạnh các nghề thủ công trên, ở Hải Dương thời kì này còn có một số nghề thủ
công khác cũng khá phát triển như: nghề dệt ở Cẩm Giàng, Gia Lộc, Ninh Giang,
Thanh Miện; nghề thêu ở Xuân Nẻo (huyện Tứ Kỳ); nghề làm bánh gai ở Ninh Giang;
nghề nấu rượu ở Phú Lộc (huyện Cẩm Giàng),...
Sự phát triển mạnh mẽ của các làng nghề thủ công truyền thống trong các thế kỉ
XVI – XIX đã thúc đẩy sự phát triển của kinh tế thương nghiệp, tạo cơ sở đưa đến sự
hình thành các phố nghề tại Hải Dương.
3 Thương nghiệp
Những biểu hiện nào chứng tỏ thương nghiệp ở Hải Dương phát triển
mạnh trong các thế kỉ XVI – XVIII?
Do những thuận lợi về giao thông, cùng với sự phát triển của nông nghiệp và thủ công
nghiệp, nhất là ở các thế kỉ XVII – XVIII, trong bối cảnh kinh tế thương nghiệp Đàng ngoài
phát triển mạnh, hoạt động thương nghiệp tại Hải Dương cũng có bước phát triển mới.
Từ thế kỉ XVI – XIX, hệ thống chợ ở Hải Dương đã hình thành ở khắp các địa
phương. Các làng xã hầu hết đều có chợ để trao đổi, mua bán hàng hoá. Với mạng
lưới đường sông ở Hải Dương như mắc cửi, liên hoàn từ tỉnh lị tới tận các làng xã xa
xôi, nối liền Hải Dương với các tỉnh lân cận nên đã tạo nhiều thuận lợi cho các hoạt
động vận chuyển, thông thương. Vì vậy, Hải Dương thời kì này đã trở thành trung tâm
thương nghiệp lớn ở khu vực đồng bằng Bắc Bộ với mặt hàng buôn bán chủ yếu là
thóc gạo. Bên cạnh đó, sông Kẻ Sặt ở tỉnh lị Hải Dương còn là nơi tập trung các loại
gỗ vận chuyển từ các tỉnh miền núi về theo đường sông. Hải Dương trên bến, dưới
thuyền và hoạt động thương nghiệp phát triển mạnh mẽ.
Hoạt động thương mại tại Đông Kiều phố rất sầm uất: hoạt động sản xuất thủ công
và buôn bán diễn ra tấp nập tại các phố và bến sông. Phố Hàng Giày là phố chuyên sản
xuất và kinh doanh các loại giầy dép da; Phố Hàng Bạc chủ yếu là chế tác và kinh doanh
vàng bạc; phố Hàng Đồng tập trung các cửa hàng kinh doanh một số mặt hàng chủ yếu
như: đỉnh, giá nến, chuỳ, chiêng, cồng… bằng đồng hoặc các đồ dùng bằng đồng khác
như chậu, mâm, nồi…; phố Hàng Lọng là nơi sản xuất và bán những chiếc lọng phục vụ
cho giới quan lại trong tỉnh,… Ngoài Đông Kiều phố, phủ Bình Giang, phủ Nam Sách,
khu vực bến sông Vân Dậu thuộc Mao Điền – Cẩm Giàng… cũng là những nơi phát
triển sầm uất bởi hoạt động thương mại.
11
Tư liệu
Theo những nghiên cứu của người Pháp đầu thế kỉ XX thì "Tỉnh lị Hải
Dương đã từng là một đô thị lớn thứ hai trong vùng châu thổ trước khi có sự
chiếm đóng của Pháp. Cho đến khi thiết lập Hải Phòng, đô thị Hải Dương là
một cảng chính của Bắc Kỳ".
Nguyễn Quang Ngọc (2010), Domea trong hệ thống thương mại Đàng Ngoài thế
kỉ XVII – XVIII, Viện Việt Nam học và Khoa học Phát triển, tr.24.
Hoạt động ngoại thương ở vùng đất Hải Dương thế kỉ XVII – XVIII phát triển với
các mặt hàng chính là sản phẩm nông nghiệp, thủ công nghiệp, đặc biệt là sản
phẩm gốm.
Bên cạnh thương cảng phố Hiến (Hưng Yên), thương cảng Domea thuộc xứ Đông
cũng là một thương cảng lớn. Một phần của thương cảng Domea gồm ngã ba sông Luộc
và sông Thái Bình thuộc địa phận Quý Cao ngày nay. Thương cảng này được người
phương Tây đánh giá là một địa danh quan trọng bậc nhất ở Đàng Ngoài, bởi từ đây họ
dễ dàng ngược lên phố Hiến, Thăng Long.
Hình 7. Bản đồ sông Đàng Ngoài thế kỉ XVII của công ti Đông Ấn Hà Lan
12
Hình 8. Bản đồ khu vực cảng Domea được xác định
Hệ thống tuyến đường thuỷ của Hải Dương nối với Thăng Long và thương cảng
phố Hiến (Hưng Yên) là một lợi thế thúc đẩy hoạt động ngoại thương của Hải Dương
thời kì này phát triển mạnh mẽ.
– Tín ngưỡng, tôn giáo Hải Dương trong các thế kỉ XVI – XIX có bước phát
triển mới như thế nào?
– Đánh giá bước phát triển mới của kinh tế thương nghiệp tại Hải Dương thế
kỉ XVII – XVIII.
III. TÌNH HÌNH VĂN HOÁ
1 Tín ngưỡng – tôn giáo
Tín ngưỡng, tôn giáo Hải Dương trong các thế kỉ XVI – XIX có bước phát triển
mới như thế nào?
Thế kỉ XVII – XVIII, bên cạnh các tín ngưỡng truyền thống tiếp tục được duy trì, đạo
Phật ở Hải Dương phát triển trong bối cảnh chung của cả nước là chấn hưng Phật giáo.
Nhiều ngôi chùa lớn được trùng tu tôn tạo như: chùa Giám (huyện Cẩm Giàng); chùa
Côn Sơn, chùa Thanh Mai (thành phố Chí Linh); chùa Động Ngọ (huyện Thanh Hà)…
đều được tôn tạo trong thời kì này. Phật giáo phát triển rộng trong dân chúng, tạo nên
triết lí sống của nhân dân.
13
Hình 9. Chùa Nhẫm Dương
(Duy Tân, thị xã Kinh Môn)
Thế kỉ XVII, Hải Dương trở thành chốn
tổ của thiền phái Tào Động. Thiền sư
Thuỷ Nguyệt Thông Giác tu tập tại
Trung Quốc, trở thành vị tổ thứ 36 của
thiền phái Tào Động. Trở về nước,
thiền sư tu ở chùa Thánh Quang, thôn
Nhẫm Dương, xã Duy Tân, huyện Kinh
Môn và trở thành thuỷ tổ của phái Tào
Động tại nước ta. Phái Tào Động phát triển ở
Hải Dương, sau đó lan toả vào Đàng Trong.
Đến triều Nguyễn, chính sách đối với Phật giáo bị hạn chế do việc đề cao Nho
giáo. Tuy nhiên, do sự tiếp nhận của nhân dân, nên Đạo Phật được phát triển sâu rộng
tới các làng xã ở Hải Dương. Hầu hết chùa ở các địa phương đều được trùng tu, tôn
tạo ở giai đoạn này.
Trong các thế kỉ XVI – XIX, tư tưởng tam giáo đồng nguyên và sự giao thoa với tín
ngưỡng dân gian tiếp tục được duy trì ở vùng đất xứ Đông.
Thiên chúa giáo
Thế kỉ XVI, Thiên chúa giáo từng bước được truyền vào vùng đất Hải Dương. Năm
1630, xứ đạo Kẻ Sặt (huyện Bình Giang) được thành lập, thu hút được hầu hết cư dân
của làng theo công giáo, đưa đến sự hình thành làng công giáo Kẻ Sặt.
Năm 1667, hai giáo phận Đàng
Ngoài và Đàng Trong được thiết lập ở
Việt Nam, Kẻ Sặt trở thành trung tâm
Thiên chúa giáo của địa phận Đông Bắc
ở Đàng Ngoài.
Hình 10. Nhà thờ giáo xứ Kẻ Sặt
14
Từ sau năm 1630, các xứ và họ đạo dần được hình thành ở các phủ, huyện trong
tỉnh. Nhiều nhà thờ đạo công giáo lớn được xây dựng trên vùng đất Hải Dương trong
các thế kỉ XVII – XIX như: nhà thờ Kẻ Sặt, nhà thờ Hải Dương (đường Trần Hưng Đạo,
thành phố Hải Dương), nhà thờ Mỹ Động (xã Hiến Thành, thị xã Kinh Môn). Trong suốt
quá trình phát triển, đồng bào Công giáo ở các xứ đạo Hải Dương luôn thể hiện tinh
thần yêu nước, thực hiện lối sống “tốt đời đẹp đạo”.
2 Giáo dục, khoa cử
Giáo dục của Hải Dương trong các thế kỉ XVI – XIX đã đạt những thành
tựu như thế nào?
Dưới triều Mạc (1527 – 1592), giáo dục được chú trọng phát triển ở cả kinh đô
Thăng Long và vùng đất Dương Kinh – kinh đô thứ hai của vương triều. Bên cạnh các
trường học tại kinh đô, triều đình còn cho xây dựng và mở rộng hệ thống trường công
ở cấp phủ. Vùng đất Dương Kinh có nhiều trường học, nên giáo dục ở vùng đất Hải Dương
rất phát triển. Triều Mạc tổ chức 22 khoa thi, lấy đỗ 485 người, trong đó Hải Dương có
122 người.
Nguyễn Thị Duệ còn có tên là
Nguyễn Thị Ngọc Du, Nguyễn Thị
Ngọc Toàn, hiệu là Diệu Huyền,
tên vua ban là Tinh Phi (tức Sao
Sa). Bà sinh vào cuối thế kỉ XVI,
trong một gia đình hiếu học. Bà
đỗ tiến sĩ dưới triều Mạc và là nữ
tiến sĩ đầu tiên trong lịch sử
phong kiến Việt Nam.
Hình 11. Tinh phi cổ tháp được phục dựng
năm 2018
Triều Lê trung hưng (1533 – 1789), nhà nước tiếp tục duy trì và củng cố hệ thống
trường học các cấp và mở rộng hệ thống trường công tới cấp huyện. Bên cạnh đó, hệ
thống trường học, lớp học tư của các danh nho được phát triển rộng đến các làng xã.
15
Trong 68 khoa thi (từ khoa thi đầu tiên năm 1580 đến khoa thi cuối cùng năm 1787),
triều đình lấy đỗ 717 tiến sĩ, trong đó có 137 tiến sĩ người Hải Dương.
Từ thế kỉ XIX, triều Nguyễn đặt chức quan trông coi việc học ở cả cấp tỉnh, cấp phủ
và cấp huyện. Qua 27 khoa thi Hội (từ khoa thi đầu tiên năm 1822 đến khoa thi cuối
cùng năm 1884), triều đình lấy đỗ 368 Phó bảng và Bảng nhãn trong đó có 16 người
Hải Dương (xếp hàng thứ 9 trong số 19 trấn, tỉnh).
1. Vẽ sơ đồ tư duy thể hiện những nét chính về vùng đất Hải Dương trong
các thế kỉ XVI – XIX.
2. Hoàn thành bảng thành tựu tiêu biểu về văn hoá – giáo dục của Hải Dương
trong các thế kỉ XVI – XIX.
Lĩnh vực
Thành tựu
1. Tìm hiểu, giới thiệu về địa danh và tình hình xã hội của địa phương em (huyện)
trong các thế kỉ XVI – XIX.
2. Sưu tầm chuyện kể về những nhà khoa cử trong các thế kỉ XVI – XIX tại địa
phương em (làng, xã, huyện).
16
CHU Y ÊN Đ Ề 2
THÀNH ĐÔNG – BIỂU TƯỢNG CỦA
HẢI DƯƠNG
• Trình bày được sự hình thành của Thành Đông tại trung tâm trấn Hải Dương.
• Đánh giá được vai trò của Thành Đông đối với lịch sử Hải Dương.
• Xác định, giới thiệu được vị trí của Thành Đông xưa trên vị trí địa lí của thành
phố Hải Dương hiện nay.
Logo của thành phố Hải Dương
17
Năm 1802, nhà Nguyễn được thành lập trong bối cảnh các nước phương Tây
đang ráo riết thực hiện xâm lược thuộc địa, vì vậy phòng thủ đất nước là nhiệm vụ
được các vị vua triều Nguyễn đặt lên hàng đầu, trong đó, giải pháp đầu tiên là xây
dựng, củng cố các thành trì tại kinh đô và các địa phương. Ngay sau khi lên ngôi, vua
Gia Long cho đặt Bắc Thành gồm 11 trấn phía bắc, Hải Dương là một trong số năm
trấn của Bắc Thành và được coi là vùng đất trọng yếu để trấn giữ mặt biển phía Đông
của kinh thành.
Việc Thành Đông được thiết lập có ý nghĩa như thế nào đến sự phát triển của vùng
đất Xứ Đông?
1 Lịch sử hình thành Thành Đông (trấn thành Hải Dương)
Thành Đông được xây dựng như thế nào?
Năm 1804, vua Gia Long cho dời lị sở của trấn Hải Dương từ Mao Điền
(Cẩm Giàng) về Hàm Giang đồng thời cho xây dựng thành trấn của quốc gia tại nơi
này. Trấn thủ Hải Dương Trần Công Hiến là người thực hiện lệnh di chuyển trấn sở,
cũng là người khởi công xây dựng trấn thành Hải Dương.
Hàm Giang thời kì này là vùng đất nằm ở vị trí ngã ba sông Kẻ Sặt và sông
Hàm Giang (nay là sông Thái Bình), thuộc địa phận xã Hàm Giang, Hàm Thượng, Bình Lao,
tổng Hàm Giang, huyện Cẩm Giàng thời Nguyễn. Vùng đất này là trung tâm của trấn
Hải Dương (tỉnh Hải Dương từ năm 1831). Ngã ba sông Thái Bình và sông Kẻ Sặt là giao
lộ quan trọng, nằm trên tuyến đường thuỷ huyết mạch, nối liền cửa biển Hải Phòng,
Thái Bình đến Thăng Long. Vùng đất này chính là khu vực trung tâm của thành phố
Hải Dương hiện nay.
18
Tư liệu
“Đất lệch về một bên ở xứ Bắc Kỳ dựa núi, bọc biển, hình thế vững vàng;
núi cao có núi Yên Tử, Đông Triều; sông lớn có Hàm Giang, Lục Đầu. Mặt
phía nam nội rộng đất bằng, đường sông như mắc cửi; mặt đông bắc núi cao
biển rộng, thế đất hiểm trở, về việc phòng bị quan hệ rất nhiều. Đến như
Nam Triệu, Đồ Sơn là khu sát biển, phía đông liền với Quảng Yên, khống chế
lẫn nhau, thực là đất quan yếu ở bờ cõi mặt biển”.
Quốc sử quán triều Nguyễn, Đại Nam nhất thống chí, tập 3,
Nhà xuất bản Thuận Hoá, Huế, tr.451.
Sự kiện đặt trấn sở mới và xây dựng thành trì phòng thủ tại Hàm Giang năm 1804
đã đánh dấu cột mốc quan trọng và đặt nền móng cho sự ra đời và phát triển của
Thành Đông, thị xã Hải Dương, thành phố Hải Dương sau này.
2 Cấu trúc của Thành Đông
Thành Hải Dương vừa là nơi ở và làm việc của bộ máy quan lại cấp tỉnh, vừa là một
đồn binh quan trọng trấn giữ miền biên ải phía đông; là nơi tập hợp lực lượng binh lính
để trấn áp các cuộc nổi dậy của nhân dân và là pháo đài phòng thủ trước các cuộc
tấn công xâm lược của thực dân Pháp.
Trung tâm của Thành Đông
thuộc ngã tư giao cắt đường
Nguyễn Trãi – Hoàng Hoa Thám,
Nguyễn Trãi – Tuệ Tĩnh hiện
nay. Cửa bắc của thành là cây
cầu bắc qua Hào Thành trên
đường Chi Lăng (sát công ti
Dược phẩm). Cửa đông ở vào
khoảng giữa Bưu điện tỉnh và
Ngân hàng Công Thương, nhìn
Hình 1. Bản đồ xác định vị trí của Thành Đông
ra đường Phạm Hồng Thái.
Cửa tây còn di tích cây cầu bắc qua Hào Thành trên đường Tuệ Tĩnh. Cửa nam
thuộc khu vực sau Sở Công an trên đường Nguyễn Trãi ngày nay.
19
Thành Hải Dương được xây dựng theo kiến trúc của thành Hà Nội, Nam Định, Bắc Ninh,
Sơn Tây,… cùng thời kì, được bao bọc bởi ba vòng thành với hệ thống thành cao, hào
sâu bảo vệ. Hào thành nối với sông Kẻ Sặt và sông Thái Bình cũng chính là đường
thuỷ quan trọng để tiếp tế lương thực, vũ khí cho binh sĩ trong thành; là đường liên lạc
nối Thăng Long và các trấn thành khác.
Cấu trúc của Thành Đông gồm thành nội; hệ thống công đường và hệ thống kho.
Thành nội có hình lục giác đều, có 6 góc thành nhô ra phía ngoài. Bên trong thành nội có
xây dựng hệ thống công đường (là nơi làm việc của bộ máy quan lại cấp tỉnh). Hệ thống
kho gồm: 12 kho thóc, 2 kho tiền, 1 kho muối, 1 kho thuốc súng, 1 kho binh khí,...2
Thành Đông có 4 cửa (Bắc, Nam, Đông, Tây), ở phía ngoài 4 cổng thành được đắp thêm
4 thành phụ gọi là Dương Mã thành (thành ngoại). Phía ngoài Dương Mã thành lại có
một lớp thành đất bao bọc xung quanh gọi là la thành. Ngăn cách giữa mỗi lớp thành là
một hệ thống hào rộng và sâu, được nối thông với sông Kẻ Sặt và sông Thái Bình.
Hình 2. Toàn cảnh Thành Đông xưa
Hình 3. Một cổng của Thành Đông
Với cấu trúc kiên cố, thành Hải Dương giữ vai trò là một pháo đài phòng thủ, một đồn
binh trọng yếu có nhiệm vụ trấn giữ vùng biên ải phía Đông của kinh thành Thăng Long.
3 Vai trò của Thành Đông với lịch sử Hải Dương
Thành Đông có vai trò như thế nào đối với lịch sử, văn hoá Hải Dương?
2
20
Viện Sử học Việt Nam (1998), Khâm Định Việt sử Thông giám cương mục, tập 13, tr.187.
Cùng với vai trò là một trấn thành, Thành Đông cũng là một trung tâm hành chính –
chính trị, nơi ở và nơi làm việc của bộ máy quan lại cấp tỉnh của trấn Hải Dương (từ
năm 1804 – 1830) và tỉnh Hải Dương sau năm 1831.
Trên cơ sở yếu tố “đô” được thiết lập và củng cố, đã đưa đến sự xuất hiện yếu tố
“thị”. Việc xây dựng thành Hải Dương đã thúc đẩy, đưa đến sự tập trung cư dân ở khu
vực ngoài thành, ven sông Kẻ Sặt, hình thành nên một trung tâm sản xuất và buôn bán
hàng hoá, gọi là Đông Kiều phố. Thành Hải Dương và Đông Kiều phố chính là các yếu
tố thiết lập nên đô thị cổ Hải Dương, trung tâm của tỉnh Hải Dương sau này.
Hình 4. Lược đồ Đông Kiều phố
Đông Kiều phố là một khu dân cư sinh sống và buôn bán ở ven sông Kẻ Sặt (phía
Đông của Thành Đông) gồm các phố cổ như: phố Hàng Giày (nay là phố Sơn Hoà); phố
Hàng Bạc (nay là Xuân Đài); phố Hàng Đồng (nay là Đồng Xuân); phố Hàng Lọng (nay
là Tuy An); phố Đông Thuần (nay là Tuy Hoà); phố Đông Mỹ (nay là Bùi Thị Cúc); phố
chợ (nay là Ngân Sơn); phố Đông Thị và Đông Giàng (nay là Quang Trung); phố Đông Môn
(nay là Phạm Hồng Thái). Hoạt động kinh tế chính tại Đông Kiều phố là thủ công
nghiệp và thương nghiệp. Đông Kiều phố đã trở thành trung tâm thương nghiệp lớn ở
khu vực đồng bằng Bắc bộ.
21
Trấn thành Hải Dương được xây dựng đã đánh dấu sự ra đời của một trung tâm
hành chính, chính trị, quân sự của tỉnh. Qua tiến trình lịch sử, Thành Đông đã trở thành
biểu tượng lịch sử, văn hoá của vùng đất Hải Dương.
Hình 5. Biểu tượng Thành Đông tại cửa ngõ
thành phố Hải Dương
Hình 6. Trung tâm thành phố Hải Dương
Hình 7. Chương trình “Ánh sáng Thành Đông” chào mừng
thành phố Hải Dương lên đô thị loại I năm 2019
Kết nối di sản
Cùng với công cuộc xây dựng thành Hải Dương, nhà nước phong kiến đã xây
dựng các công trình văn hoá, giáo dục khác như: Trường học tỉnh Hải Dương
thuộc địa phận hai xã Hàm Giang và Bình Lao; miếu Hội Đồng trên địa phận xã
Hàm Thượng thờ hệ thống thần linh ở địa phương; đàn Xã Tắc trên địa phận xã
Hàm Giang thờ thần Đất và thần Lúa; miếu Thành Hoàng trên địa phận xã Hàm Thượng
thờ vị thần giữ thành… Các công trình này nằm ngoài thành, tạo thành một vành đai
bao quanh thành và phục vụ cho các nghi lễ hằng năm của quan quân và nhân dân
địa phương.
22
1. Trình bày những nét chính về sự ra đời của Thành Đông và Đông Kiều phố.
2. Đánh giá vai trò của Thành Đông đối với lịch sử, văn hoá Hải Dương.
Đóng vai một hướng dẫn viên du lịch, giới thiệu về lịch sử Thành Đông.
23
CH UY ÊN Đ Ề 3
DẤU ẤN VĂN HOÁ PHƯƠNG TÂY
(THẾ KỈ XVI – XX) TẠI HẢI DƯƠNG
• Nhận diện được những dấu ấn văn hoá phương Tây (về văn hoá, giáo dục,
kiến trúc, giao thông) tại Hải Dương từ thế kỉ XVI đến đầu thế kỉ XX.
• Nhận xét được giá trị của sự tiếp thu văn hoá phương Tây có chọn lọc và cải
biến của nhân dân Hải Dương.
• Trải nghiệm, tìm hiểu và giới thiệu được một số những thành tựu văn hoá tiêu
biểu của Hải Dương có ảnh hưởng từ phương Tây.
Cầu Phú Lương, thành phố Hải Dương
24
Trong các thế kỉ XVI – XX, qua quá trình giao lưu kinh tế và truyền đạo của các
nước phương Tây, đặc biệt là công cuộc xâm lược của nước Pháp, sự giao thoa văn
hoá đã diễn ra mạnh mẽ. Các yếu tố văn hoá phương Tây đã du nhập vào Việt Nam.
Trên cơ sở nền văn hoá bản địa, Việt Nam đã tiếp thu văn hoá phương Tây có chọn lọc
và cải biến.
Hãy chia sẻ một số dấu ấn văn hoá phương Tây trong các thế kỉ XVI – XX tại
Hải Dương mà em biết.
1 Về chữ viết và giáo dục
Dấu ấn về chữ viết và giáo dục phương Tây trong các thế kỉ XVI – XX
được lưu lại như thế nào tại Hải Dương?
Trong những năm cuối thế kỉ XIX, bên cạnh nền giáo dục phong kiến, dạy và học
chữ Hán, chữ Nôm, Hải Dương bắt đầu xuất hiện việc học tiếng Pháp và xuất hiện các
cơ sở giáo dục dạy tiếng Pháp.
Năm 1897, một số quan chức tỉnh Hải Dương cùng với một số quan chức, trí thức
người Pháp đã thành lập Hội Tương trợ giáo dục tỉnh Hải Dương (gọi là Hội Trí tri). Hội
đã lập ra một trường tư thục (Tân học đường) gọi là Trường Trí tri tại hội sở của Hội. Đây
là trường theo tân học đầu tiên của tỉnh, dạy chữ Quốc ngữ và tiếng Pháp cho những người
lớn tuổi đã biết chữ Hán. Minh chứng về di tích này là tấm bia Hội Trí tri Hải Dương trong
khuôn viên của Trường Trung học cơ sở Ngô Gia Tự, thành phố Hải Dương hiện nay.
25
Mặt trước của văn bia được khắc bằng
chữ Hán, có nội dung chính như sau: Tỉnh
Hải Dương ngày xưa gọi là Hải Đông, là
một trọng trấn của cả nước. Hải Đông vốn
có truyền thông hiếu học lâu đời. Từ những
người vốn được ăn học dựng lên một toà
nhà mới (tân học đường), gọi là Trí tri học
sở. Mục đích của hội Trí tri là khuyến khích
người học, đầu tiên là học để biết, rồi biết
tường tận do được biết nguyên lí sự vật…
Hình 1. Mặt trước tấm bia
Hội Trí Tri (tại trường Trung học cơ sở
Ngô Gia Tự , thành phố Hải Dương)
Mặt sau của bia được khắc bằng chữ Pháp và
chữ Quốc ngữ về những thành viên của Hội: “Hội
hỗ trợ giáo dục tỉnh Hải Dương, thành lập năm
1897. Chủ tịch danh dự của hội là vị Công sứ thị
trưởng thành phố But-xê (ALFRED - BOUCHET)…”.
Tên của 11 hội viên danh dự gồm những
người Pháp, người Việt có chức sắc còn đương
chức (Công sứ Bút-xê, Tổng đốc Nguyễn Văn Bân,
Án sát Nghiêm Thuý Ưng, Thư kí thành phố
Văng-đec-ca, Bác sĩ Đờ-vi) và những người đã
Hình 2. Mặt sau tấm bia Hội Trí tri
nghỉ hưu (Công sứ Đơ-vi, Tổng đốc Từ Đạm, Tuần
(tại trường Trung học cơ sở
Ngô Gia Tự, thành phố Hải Dương) phủ Nguyễn Huy Tưởng).
Đầu thế kỉ XX, chính quyền thuộc địa cho xây dựng một Trường Tiểu học Pháp –
Việt (tức trường Nam Tiểu học tại vị trí Trường Tiểu học Tô Hiệu ngày nay) và Trường
Pháp – Việt ở Ninh Giang và Trường Nữ Tiểu học Hải Dương (nay là Trường Tiểu học
Võ Thị Sáu).
26
Từ năm 1905, chính quyền đô hộ Pháp thực hiện chương trình giáo dục ở Việt Nam
thuộc địa: mở hệ thống Trường Tiểu học Pháp – Việt tại các tỉnh lị và phủ huyện lớn,
chương trình Tiểu học được học bằng tiếng Pháp. Học hết Tiểu học, học sinh sẽ vào học
tại trường Quốc học (Huế) hay trường Bảo hộ (Hà Nội).
Trường Nam Tiểu học (còn gọi là
Trường Tiểu học Pháp – Việt).
Trường do cả giáo viên người Pháp
và giáo viên người Việt giảng dạy.
Học sinh được học bằng tiếng Pháp
theo chương trình đào tạo của
chính quyền Pháp.
Hình 3. Một góc Trường Nam Tiểu học
Hải Dương xưa (từng tồn tại ở Trường
Tiểu học Tô Hiệu, thành phố Hải Dương)
Các trường học Pháp – Việt tuy phục vụ cho mục đích cai trị của Pháp, song đã
đào tạo được đội ngũ trí thức mới, tạo nên biến chuyển lớn trong giáo dục và xã hội
Hải Dương. Bên cạnh đó, cũng qua giáo dục và giao thoa văn hoá, cách ăn mặc theo
Âu phục và cắt tóc ngắn đã dần phổ biến tại Hải Dương.
2 Thiết kế đô thị, giao thông
Dấu ấn văn hoá phương Tây về thiết kế đô thị, giao thông ở Hải Dương
được thể hiện như thế nào?
Để phục vụ quá trình khai thác thuộc địa, Pháp đã tập trung xây dựng hệ thống
tuyến đường sắt và đường bộ. Nhiều tuyến đường quan trọng của Hải Dương được
xây dựng trong thời kì này như: đường sắt và đường bộ (đường thuộc địa số 5) Hà Nội –
Hải Phòng (đoạn qua địa bàn Hải Dương dài 45...
 





