TRÍCH DẪN HAY

Sách như một cánh cổng diệu kỳ đưa ta đến những chân trời của lý tưởng, khát vọng và bình yên. Cuộc đời ta thay đổi theo hai cách: Qua những người ta gặp và qua những cuốn sách ta đọc. Đọc sách là nếp sống, là một nét đẹp văn hóa và là nguồn sống bất diệt. Việc đọc cũng giống như việc học. Có đọc, có học thì mới có nhân. Thói quen đọc sách chỉ được hình thành và duy trì khi chữ tâm và sách hòa quện làm một. Người đọc sách là người biết yêu thương bản thân mình và là người biết trân trọng cuộc sống. Việc đọc một cuốn sách có đem lại cho bạn lợi ích hay không, phụ thuộc vào thái độ và tâm thế của bạn khi đọc.

THƯ VIỆN ĐIỆN TỬ HIỆU ỨNG LẬT SÁCH

HỌC LIỆU ĐIỆN TỬ

GIỚI THIỆU SÁCH HAY NÊN ĐỌC

E-BOOK SÁCH THAM KHẢO

E-BOOK SÁCH LỊCH SỬ

Thống kê

  • truy cập   (chi tiết)
    trong hôm nay
  • lượt xem
    trong hôm nay
  • thành viên
  • Thành viên trực tuyến

    1 khách và 0 thành viên

    Ảnh ngẫu nhiên

    Chau_Au.jpg CangBien.jpg TG10.jpg VietNamtrongDNA.jpg GIAOTHONGTPHCMMAU3.jpg Luoc_do_dia_hinh_Viet_Nam1jpg.jpg TG07.jpg 1.jpg

    VIDEO GIỚI THIỆU SÁCH CỦA THƯ VIỆN

    CẨM NANG KIẾN THỨC THÚ VỊ

    VIDEO THÍ NGHIỆM THỰC HÀNH

    TẠI SAO? ĐIỀU CHÚNG MÌNH CHƯA BIẾT

    💕💕Đọc sách là nếp sống, là một nét đẹp văn hóa và là nguồn sống bất diệt💕💕

    Chủ tịch Hồ Chí Minh với đọc sách và tự học

    giáo dục địa phương 7

    Wait
    • Begin_button
    • Prev_button
    • Play_button
    • Stop_button
    • Next_button
    • End_button
    • 0 / 0
    • Loading_status
    Nhấn vào đây để tải về
    Báo tài liệu có sai sót
    Nhắn tin cho tác giả
    (Tài liệu chưa được thẩm định)
    Nguồn: sưu tầm
    Người gửi: Vũ Thị Hoa
    Ngày gửi: 08h:55' 14-01-2025
    Dung lượng: 28.0 MB
    Số lượt tải: 2
    Số lượt thích: 0 người
    UỶ BAN NHÂN DÂN TỈNH HẢI DƯƠNG
    SỞ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
    LƯƠNG VĂN VIỆT (Tổng Chủ biên)
    ĐỖ DUY HƯNG (Chủ biên)
    NGUYỄN THANH THUỶ - ĐẶNG VĂN BÌNH - PHẠM VĂN KHANH

    7

    Mục lục

    Lời nói đầu

    3

    Hướng dẫn sử dụng tài liệu

    4

    Chủ đề 1. Lịch sử Hải Dương từ thế kỉ X đến đầu thế kỉ XVI

    5

    Chủ đề 2. Hải Dương – Phên giậu phía đông trong cuộc đấu tranh


    2

    bảo vệ độc lập, tự chủ của dân tộc

    19

    Chủ đề 3. Nghệ thuật truyền thống của Hải Dương

    28

    Chủ đề 4. Tục ngữ, ca dao của Hải Dương

    40

    Chủ đề 5. Tài nguyên thiên nhiên

    50

    Chủ đề 6. Thiên tai và phòng chống thiên tai

    70

    Lời nói đầu

    Các em học sinh thân mến!
    Tài liệu Giáo dục địa phương tỉnh Hải Dương – Lớp 7 sẽ tiếp tục đồng hành cùng
    các em học sinh trong việc tiếp cận và khám phá các vấn đề về văn hoá, lịch sử truyền
    thống; địa lí, kinh tế, hướng nghiệp; chính trị – xã hội, môi trường của xứ Đông xưa,
    Hải Dương nay.
    Với sáu chủ đề được Ban Biên soạn lựa chọn kĩ lưỡng, bám sát mục tiêu, yêu cầu
    của nội dung giáo dục địa phương, các em sẽ có cơ hội tìm hiểu, trải nghiệm, khám
    phá lịch sử phát triển của Hải Dương từ thế kỉ X đến đầu thế kỉ XVI; vai trò của Hải
    Dương trong cuộc đấu tranh bảo vệ độc lập, tự chủ của dân tộc; nghệ thuật truyền
    thống của Hải Dương; tục ngữ, ca dao của Hải Dương; tài nguyên thiên nhiên của Hải
    Dương; thiên tai và phòng chống thiên tai của tỉnh.
    Thông qua các hoạt động khám phá tri thức, các em có điều kiện phát huy, phát
    triển một số năng lực cốt lõi và phẩm chất chủ yếu cần có của học sinh trung học cơ
    sở. Qua đó, bồi dưỡng niềm tự hào, tình yêu quê hương, ý thức giữ gìn, bảo tồn, phát
    huy các giá trị truyền thống của quê hương; vận dụng những điều đã học vào giải
    quyết những vấn đề nảy sinh từ thực tế của quê hương, góp phần bảo vệ môi trường
    tự nhiên tại tỉnh Hải Dương nói riêng, cả nước nói chung.
    Trong quá trình biên soạn, tài liệu không tránh khỏi những thiếu sót. Rất mong
    nhận được ý kiến đóng góp của các các thầy cô giáo và các em học sinh để Tài liệu
    giáo dục địa phương tỉnh Hải Dương – Lớp 7 ngày càng hoàn thiện hơn.
    Ban Biên soạn

    3

    Hướng dẫn sử dụng tài liệu
    Các em học sinh thân mến!
    Tài liệu Giáo dục địa phương tỉnh Hải Dương – Lớp 7 được biên soạn gồm sáu chủ
    đề thuộc các lĩnh vực địa lí, lịch sử và ngữ văn; mỗi lĩnh vực có đặc điểm riêng. Các em
    cần bám sát đặc trưng của từng môn học để tìm hiểu, khám phá và chiếm lĩnh tri thức.
    Mỗi phần, mỗi bài học cụ thể của chủ đề thường bắt đầu bằng các nhiệm vụ, tình
    huống cần giải quyết để các em kết nối với tri thức đã biết và tiếp tục tìm kiếm, thu
    thập thông tin cần thiết trước, trong và sau khi tìm hiểu mỗi bài học và cả chủ đề.
    Phần hình thành kiến thức, đọc hiểu văn bản được thể hiện sinh động qua kênh
    chữ, kênh hình và một số hình ảnh minh hoạ. Những câu hỏi, hoạt động, hướng dẫn
    giúp các em tự tin khám phá kiến thức về địa lí, lịch sử và văn hoá của Hải Dương.
    Phần thực hành, luyện tập là những câu hỏi, bài tập nhằm củng cố, khắc sâu kiến
    thức, rèn kĩ năng nhận diện, nhận xét, đánh giá, bước đầu giải quyết một số vấn đề có
    liên quan.
    Phần vận dụng, mở rộng, tìm tòi, sáng tạo là những gợi ý, yêu cầu, định hướng để
    các em kết nối tri thức của địa phương Hải Dương với tri thức chung của dân tộc và
    thế giới; kết nối kiến thức nội môn, liên môn một cách chủ động, sáng tạo nhằm hình
    thành các phẩm chất chủ yếu, phát triển các năng lực cốt lõi, sở trường, năng khiếu
    của mỗi cá nhân một cách hiệu quả nhất.
    Chúc các em tự giác, tự chủ, tự tin và sáng tạo trong học tập để đạt kết quả tốt nhất.
    Ban Biên soạn
    KÍ HIỆU DÙNG TRONG SÁCH

    Hãy bảo quản, giữ gìn tài liệu để có thể dành tặng cho các em học sinh lớp sau nhé!

    4

    Chủ đề 1
    LỊCH SỬ HẢI DƯƠNG
    TỪ THẾ KỈ X ĐẾN ĐẦU THẾ KỈ XVI
    Mục tiêu
    • Trình bày được sự phát triển của xã hội, kinh tế, văn hoá Hải Dương từ
    thế kỉ X đến thế kỉ XVI.
    • Nhận xét được sự phát triển của kinh tế, văn hoá của Hải Dương trong
    lịch sử.
    • Tìm hiểu, giới thiệu được một số di tích lịch sử – văn hoá; thành tựu
    văn hoá; nghề thủ công tiêu biểu của Hải Dương.

    Bình gốm Chu Đậu thế kỉ XV được lưu tại Bảo tàng Topkapi Saray, Istanbul (Thổ Nhĩ Kỳ)

    5

    TÌNH HÌNH XÃ HỘI

    Thế kỉ X được coi là mốc mở đầu thời đại phong kiến độc lập của
    dân tộc Việt Nam. Xã hội phong kiến được thiết lập và từng bước
    phát triển, đạt đến đỉnh cao trong các thế kỉ XV – XVI.
    Vậy tình hình xã hội của Hải Dương đã phát triển như thế nào trong
    các thế kỷ X - XVI?

    1 Tên gọi Hải Dương

    Tên gọi Hải Dương được ra đời gắn với triều đại nào trong các thế kỉ X – XVI?
    Từ thế kỉ X đến thế kỉ XVI, vùng đất Hải Dương mang nhiều tên gọi khác nhau qua
    các triều đại.
    Thời gian

    Đơn vị hành chính

    Tên gọi

    Thời Lý

    Lộ

    Hồng Lộ

    Thời Trần

    Lộ

    Hải Đông

    Thời Lê sơ (1428 – 1469)

    Thừa tuyên

    Nam Sách

    Thời Lê sơ (từ 1469)

    Thừa tuyên

    Hải Dương

    Hải Dương khi đó giáp biển nên tên gọi Hải Dương có hàm ý là “ánh dương miền duyên
    hải” . Bên cạnh tên gọi hành chính, từ thời nhà Lý, với vị trí là một trong tứ trấn quan trọng
    của kinh thành Thăng Long nên vùng đất Hải Dương còn mang tên gọi xứ Đông.
    1

    1

    6

    Phan Huy Chú, Lịch triều hiến chương loại chí, tập 2, tr100.

    2 Tình hình xã hội Hải Dương

    Trong các thế kỉ X – XVI, xã hội Hải Dương đã có những chuyển biến gì?

    Thế kỉ X, dưới thời Đinh, Tiền Lê, ruộng đất chủ yếu là ruộng đất công của các
    làng, xã, chia cho nông dân cày cấy. Tuy nhiên, cuối thế kỉ X bắt đầu xuất hiện một
    số hào trưởng địa phương là quý tộc, sở hữu nhiều ruộng đất.
    Thời Lý – Trần, chế độ phong ruộng đất cho các vương hầu, quý tộc và những
    người có công với triều đình đã đưa đến sự xuất hiện nhiều thái ấp. Tại vùng đất Hải
    Dương (Hải Đông lộ) đã có tám thái ấp rộng lớn. Giai cấp địa chủ từng bước được
    hình thành.
    Thời Trần, những người
    thuộc hàng tôn thất và những
    người tài giỏi, lập công lớn
    trong các cuộc kháng chiến
    chống xâm lược Nguyên Mông
    được ban quốc tính (họ nhà
    vua) được triều đình ban thái
    ấp, ruộng đất này không phải
    nộp tô thuế cho nhà nước.
    Trên tấm bia “Tam Bảo
    địa” tại núi Phượng Hoàng (xã
    Yên Đức, Đông Triều nay thuộc
    Quảng Ninh), ghi rõ “Chủ đất
    làm chức Hành khiển được
    vua Trần ban quốc tính là Trần
    Khắc Chung và vợ là Bảo Hoàn
    công chúa…”
    Hình 1. Bia khắc xác nhận thái ấp của
    Trần Khắc Chung trên núi Phượng Hoàng
    (xã Yên Đức, Đông Triều nay thuộc Quảng Ninh)

    7

    Dưới thời nhà Trần, Hải Dương có các thái ấp của An Sinh Vương Trần Liễu ở
    vùng Kinh Môn; thái ấp của Trần Khắc Chung ở Đông Triều; thái ấp của Trần Quốc
    Tuấn; thái ấp của Chiêu Vũ đại vương Trần Quốc Chẩn và thái ấp của Thượng tướng
    Trần Phó Duyệt (cha của Trần Khánh Dư) ở Chí Linh1,… là những vùng đất rộng lớn.

    Từ thời Hồ đến thời Lê sơ, tình trạng mua bán ruộng đất được nhà nước cho phép
    nên ruộng đất tư nhân tăng nhanh, các thái ấp xuất hiện ngày càng nhiều, giai cấp
    địa chủ ở Hải Dương không ngừng lớn mạnh. Chế độ phong kiến ngày càng phát triển
    trong xã hội Hải Dương.

    1. Giới thiệu về ý nghĩa của tên gọi Hải Dương quê hương em.
    2. Tại sao ở Hải Dương từ thế kỉ X – XVI có nhiều thái ấp của các quan lại, quý tộc?

    1

    8

    Nguyễn Trãi, Dư địa chí, H. KHXH, Hà Nội, 1976, tr218.

    TÌNH HÌNH KINH TẾ

    Qua năm đợt khảo cổ học từ năm 1983 đến năm 2014 và cuộc
    trục vớt con tàu đắm tại Cù Lao Chàm năm 1997 đã có nhiều kết
    luận quan trọng về sản phẩm gốm sứ Chu Đậu cũng như về trung
    tâm sản xuất gốm sứ bậc nhất của Hải Dương và cả nước trong
    các thế kỉ XV - XVI.
    Vậy, tình hình kinh tế của Hải Dương đã phát triển như thế nào
    trong các thế kỉ X - XVI?

    1 Nông nghiệp

    Kinh tế nông nghiệp tại Hải Dương phát triển như thế nào trong các thế kỉ
    X – XVI?

    Hải Dương là vùng đồng bằng màu mỡ, có “ruộng vào hạng thượng thượng”1 nên
    từ thế kỉ X, Hải Dương đã được biết đến là một trong những địa phương có thế mạnh
    trong sản xuất nông nghiệp.
    Dưới thời Lý – Trần, do chính sách khuyến nông tích cực của triều đình nên
    diện tích đất canh tác được mở rộng, kinh tế nông nghiệp vùng Hồng Châu bắt
    đầu phát triển.

    1

    Nguyễn Trãi, Dư địa chí, H: KHXH, Hà Nội, 1976, tr218.

    9

    Sản xuất nông nghiệp phát triển quy mô lớn trong các thái ấp, điển hình là thái ấp
    của Hưng Đạo đại vương Trần Quốc Tuấn ở Vạn Kiếp. Công lao của Công chúa Thiên
    Thành là phu nhân của Trần Hưng Đạo trong việc phát triển sản xuất nông nghiệp, xây
    dựng căn cứ hậu phương vững chắc phục vụ đại bản doanh Vạn Kiếp trong cuộc kháng
    chiến chống quân Nguyên Mông xâm lược được lưu trong thần tích của làng Trung Quê
    (xã Lê Lợi, thành phố Chí Linh). Ngày nay, dân gian còn truyền tụng câu ca:
    “Trâu thì Mẫu thả Huyền Đinh
    Lợn thì Mẫu thả cánh đồng Trung Quê”.

    Thời Lê sơ, ruộng đất công làng xã ở Hải Dương được chia lại theo phép quân
    điền, đê điều được củng cố, binh lính được về quê làm ruộng,… thúc đẩy kinh tế nông
    nghiệp Hải Dương phát triển mạnh mẽ.
    Đến thời Lê – Trịnh, ruộng đất công làng xã bị thu hẹp dần, chính quyền không
    quan tâm đến thuỷ lợi và tổ chức khai hoang, kinh tế nông nghiệp bị suy giảm, nạn
    mất mùa đói kém xảy ra liên miên. Đây là nguyên nhân làm bùng nổ các phong trào
    đấu tranh của nông dân Hải Dương chống lại chính quyền phong kiến.

    KẾT NỐI DI SẢN
    Ngọc phả đền Đồng Bào thuộc xã Gia Xuyên, thành phố Hải Dương;
    miếu Đông Cận xã Tân Tiến, đền Đươi xã Thống Nhất, huyện Gia Lộc; chùa
    Cẩm Trục xã Ngọc Liên, huyện Cẩm Giàng… thờ Nguyên phi Ỷ Lan đều có
    ghi công tích của bà dạy dân làng mở đất, cấy lúa, trồng dâu nuôi tằm.

    2 Thủ công nghiệp

    Kể tên những nghề thủ công phát triển tại Hải Dương trong các thế kỉ X - XVI?

    10

    Là vùng đất nhiều sản vật, cư dân đông đúc nên sản xuất thủ công nghiệp
    của Hải Dương trong thời kì này phát triển mạnh mẽ với nhiều ngành nghề, tiêu
    biểu là các ngành, nghề thủ công như: chạm khắc gỗ, đúc đồng, làm gốm sứ,…
    Ở các làng xã xuất hiện ngày càng nhiều các làng nghề thủ công nhất là nghề
    gốm sứ.
    Hải Dương là một trong những địa phương sản xuất gốm sứ lớn nhất cả nước.
    Từ thế kỉ X, nghề sản xuất gốm và đóng gạch ngói đã rất phát triển. Đến thời Trần,
    nhiều làng nghề sản xuất gốm đã ra đời và phát triển mạnh mẽ như cơ sở sản
    xuất gốm sứ Vạn Kiếp (thành phố Chí Linh); làng Gốm phường Cổ Thành (thành
    phố Chí Linh); làng gốm Chu Đậu (nay thuộc xã Minh Tân, huyện Nam Sách). Thời
    Lê sơ, nghề gốm phát triển mở rộng, xuất hiện thêm nhiều làng gốm như: làng
    Cậy xã Long Xuyên (huyện Bình Giang), gốm Hợp Lễ xã Long Xuyên (huyện Bình
    Giang). Thế kỉ XV – XVI, các sản phẩm gốm Chu Đậu, Hợp Lễ là những sản phẩm
    tiêu biểu cho dòng gốm thời Lê ở Việt Nam và đã được giao thương với nhiều
    nước trên thế giới.

    Hình 1. Sản phẩm gốm Hợp Lễ, thế kỉ XV

    Hình 2. Đĩa gốm Chu Đậu, thế kỉ XV – XVI

    Các nghiên cứu cho thấy thế kỉ XIV – XV, nghề gốm Việt Nam đã có bước phát triển
    mạnh không chỉ về số lượng mà cả về chất lượng. Nhiều trung tâm sản xuất gốm xuất
    khẩu mới ra đời và phát triển nhanh cả về quy mô và tốc độ. Hải Dương có bảy làng chuyên
    làm gốm tráng men là Chu Đậu, Mỹ Xá (huyện Nam Sách), Ngói, Cậy, Láo, Bá Thuỷ, Hợp Lễ
    (huyện Bình Giang).

    11

    Hình 3. Bình gốm hoa lam Chu Đậu lưu tại
    Bảo tàng Topkapi Saray Istanbul (Thổ Nhĩ
    Kỳ) do nghệ nhân Bùi Thị Hý tạo năm 1450

    Hình 4. Ấm gốm hoa lam hình chim phượng
    Chu Đậu, thế kỉ XV (hiện vật trong con tàu đắm
    ở Cù Lao Chàm)

    Ngoài ra, nhiều ngành nghề thủ công khác được phát triển tại Hải Dương, gắn với
    các địa phương như: trồng dâu nuôi tằm dệt vải tại Mao Điền, chạm khắc gỗ Đông
    Giao, huyện Cẩm Giàng; nghề nhuộm Đan Loan, kim hoàn Châu Khê, huyện Bình
    Giang; chạm khắc đá Kính Chủ, Phạm Thái, thị xã Kinh Môn; nghề đóng giày Tam
    Lâm, huyện Gia Lộc,…
    3 Thương nghiệp

    Kinh tế thương nghiệp của Hải Dương phát triển như thế nào trong các
    thế kỉ X – XVI?

    Do có lợi thế về kinh tế nông nghiệp, thủ công nghiệp và giao thông thuỷ nên
    trong các thế kỉ X – XVI, thương nghiệp Hải Dương rất phát triển.

    12

    Dưới thời Lý – Trần, thương cảng Vân Đồn là thương cảng quốc tế đầu tiên
    của nước ta. Hải Dương nằm trên trục giao thông thuỷ quan trọng, nối kinh đô
    Thăng Long với thương cảng Vân Đồn, có mạng lưới đường sông nối liền với các
    tỉnh lân cận nên hoạt động buôn bán, giao thương phát triển mạnh mẽ. Thế kỉ XV
    – XVI, Hải Dương đã trở thành một trung tâm thương nghiệp lớn ở khu vực đồng
    bằng Bắc Bộ.
    Từ thời Lê sơ, hệ thống
    chợ ở Hải Dương đã phát triển
    mạnh, thường ở mỗi xã hoặc vài
    xã lân cận có một chợ chung,
    họp vào những ngày nhất định
    trong tháng. Nhiều cảng sông
    có hoạt động giao thương tấp
    nập, thuyền bè đi lại như mắc cửi
    như bến Vạn Kiếp (Vạn Kiếp, Chí
    Linh); bến Nhạn Loan (Cổ Thành,
    Chí Linh); bến Cổ Phường thuộc
    làng gốm Chu Đậu (Thái Tân,
    Nam Sách); bến Tiên Kiều (xã
    Đức Chính, Cẩm Giàng), bến Ninh

    Hình 5. Tranh vẽ cảnh chợ làng thời Hậu Lê

    Giang (thị trấn Ninh Giang),…

    Hàng hoá được giao thương tại Hải Dương thời kì này chủ yếu là các sản phẩm
    thủ công, đặc biệt là đồ gốm. Tại các phiên chợ, nhân dân buôn bán các sản phẩm
    nông nghiệp như thóc, gạo, rau, hoa quả; các sản phẩm ngư nghiệp như tôm, cua, cá,
    ốc; các sản phẩm thủ công mây, tre đan như rổ, rá, thúng, dần, sàng, nong, nia; các
    loại gia súc, gia cầm như lợn, gà, chó, mèo; các loại vải vóc, đồ gốm sứ,…
    Thời Lê sơ, gốm sứ Hải Dương có mặt ở hầu hết các tỉnh Bắc Bộ, Trung Bộ và
    được giao thương với các nước trên thế giới nhiều nhất. Các sản phẩm gốm sứ của
    Hải Dương không chỉ là mặt hàng phục vụ nội thương mà còn đáp ứng được yêu
    cầu của ngoại thương. Sản phẩm gốm Chu Đậu được nhiều quốc gia ưa chuộng và
    đã được giao thương với nhiều nước trên thế giới như: Trung Quốc, Nhật Bản và các
    nước phương Tây.
    13

    Hình 6. Lược đồ về nơi có lưu giữ gốm Chu Đậu thế kỉ XV – XVI

    1. Hoàn thành bảng thông tin về sự phát triển kinh tế của Hải Dương trong các thế kỉ
    X - XVI:
    Nội dung

    Nông nghiệp

    Thủ công nghiệp

    Thương nghiệp

    Điều kiện phát triển
    Thành tựu
    Đánh giá
    2. Nhận xét về tình hình kinh tế của Hải Dương từ thế kỉ X – XVI.
    3. Giới thiệu về một sản phẩm thủ công của Hải Dương thế kỉ X – XVI mà em thích.

    14

    TÌNH HÌNH VĂN HOÁ

    Nhà nước Văn Lang, Âu Lạc được coi là thời kì đặt nền móng vững
    chắc cho nền văn hoá bản địa của dân tộc Việt Nam. Qua quá
    trình giao thoa văn hoá, tiếp thu có chọn lọc và cải biến, từ thế kỉ
    X - XVI, nền văn hoá Đại Việt tiếp tục khởi sắc với nhiều thành tựu
    rực rỡ.
    Văn hoá Hải Dương đã phát triển như thế nào trong giai đoạn này?

    1 Tín ngưỡng - tôn giáo

    Văn hoá Hải Dương trong các thế kỉ X – XVI có bước phát triển mới như
    thế nào?

    Từ thế kỉ X, bên cạnh việc duy trì các tín ngưỡng như thờ cúng tổ tiên, tôn vinh
    những người có công với nước, sùng bái thiên nhiên,… đạo Phật ở Hải Dương đã
    nhanh chóng phát triển. Nhiều ngôi chùa đã được xây dựng trong thời kì này như:
    chùa Động Ngọ (xã Tiền Tiến, thành phố Hải Dương); chùa Liên Hoa (xã Nhật Tân,
    huyện Gia Lộc); chùa Kỳ Đà (phường Ái Quốc, thành phố Hải Dương), chùa Huyền
    Thiên (phường Văn An, thành phố Chí Linh),…

    15

    Chùa Động Ngọ (xã Tiền Tiến,
    huyện Thanh Hà, nay thuộc thành phố
    Hải Dương) được xây dựng bởi Quốc
    sư Khuông Việt vào năm 971 là minh
    chứng cho sự tồn tại và phát triển của
    đạo Phật ở Hải Dương từ thế kỉ X.
    Hình 1. Chùa Động Ngọ
    (xã Tiền Tiến, thành phố Hải Dương)

    Dưới thời Lý – Trần, Phật giáo được coi trọng và chiếm địa vị độc tôn. Ở Hải
    Dương, chùa được xây dựng tại các địa phương. Đặc biệt, vào thế kỉ XIII, trên vùng
    đất Hải Dương có sự ra đời của thiền phái Phật giáo bản địa là Thiền phái Trúc Lâm
    với một số vị cao tăng tiêu biểu như Pháp Loa, Tuệ Tĩnh.

    Tháng 8 năm 1299, Thượng hoàng Trần Nhân Tông đi tu tại núi Yên Tử, sáng lập
    ra Thiền phái Trúc Lâm. Cùng phát triển thiền phái này với vua là các Thiền sư kiệt xuất
    gồm Pháp Loa và Huyền Quang, gọi chung là Trúc Lâm Tam tổ. Tư tưởng của Thiền
    phái này hướng về con người với tinh thần yêu nước “Phật tại tâm, mọi người đều có thể
    thành Phật, bất luận là tu sĩ xuất gia hay tại gia, nam hay nữ chỉ cần sống thiện, sống tốt
    là thành Phật”.

    Chùa Côn Sơn là nơi Trần Nhân
    Tông, Pháp Loa, Huyền Quang là ba vị
    tổ sáng lập thiền phái này đã từng tu
    hành và thuyết pháp ở đây. Thiền sư
    Huyền Quang là trụ trì chùa Côn Sơn
    đã viên tịch tại đây vào ngày 23 tháng
    Giêng năm Giáp Tuất (1334), vì thế Côn
    Sơn được gọi là một trong những chốn
    tổ của Thiền phái Trúc Lâm.

    16

    Hình 2. Chùa Côn Sơn (thành phố Chí Linh)

    Bên cạnh sự phát triển của đạo Phật, từ thời Trần, Nho giáo và Đạo giáo từng
    bước ảnh hưởng sâu rộng vào Hải Dương, tạo nên nét đặc sắc văn hoá “tam giáo
    đồng nguyên”.
    2 Giáo dục, khoa cử

    Giáo dục của Hải Dương thế kỉ X – XVI phát triển như thế nào?

    Từ thời nhà Lý, ngay từ những khoa thi đầu tiên, đất Hồng Châu (Hải Dương) đã
    có Mạc Hiển Tích, người xã Lũng Động – huyện Chí Linh (nay là xã Nam Tân, huyện
    Nam Sách) đỗ đầu khoa thi năm Bính Dần (1086) và trở thành người khai khoa cho
    tỉnh Hải Dương. Trong số sáu khoa thi thời Lý, vùng đất Hải Dương (Hồng Lộ) có năm
    người đỗ đạt.
    Đến thời Trần, Hồng Châu có nhiều người đỗ đạt cao ra làm quan. Trong lĩnh vực
    ngoại giao và văn học có Trạng nguyên Mạc Đĩnh Chi; cống hiến cho sự nghiệp giáo
    dục có thầy giáo Chu Văn An; lĩnh vực y học có Đại danh y Tuệ Tĩnh,... Ngoài ra, còn
    rất nhiều người đỗ đạt thành danh như: Phạm Sư Mạnh, Nguyễn Đại Năng (Kinh Môn);
    Nguyễn Phi Khanh (Chí Linh); Lê Cảnh Tuân (Bình Giang),…
    Mạc Đĩnh Chi (1280 – 1346)
    người làng Lũng Động, huyện
    Chí Linh (nay thuộc xã Nam
    Tân, huyện Nam Sách, tỉnh Hải
    Dương). Ông đỗ Trạng nguyên và
    làm quan dưới thời vua Trần Anh
    Tông. Ông được cử đi sứ Trung
    Quốc và được vua Nguyên phong
    “Lưỡng quốc Trạng nguyên”
    (Trạng nguyên hai nước).
    Hình 3. Đền thờ Mạc Đĩnh Chi (huyện Nam Sách)

    17

    Tuệ Tĩnh (1330 – 1385), người làng
    Nghĩa Phú, tổng Văn Thai, phủ Thượng
    Hồng (nay là thôn Nghĩa Phú, xã Cẩm
    Vũ, huyện Cẩm Giàng, tỉnh Hải Dương) là
    người mở đầu cho nền y dược cổ truyền
    Việt Nam, được tôn là vị thánh thuốc Nam.
    Ông đã xây dựng 24 ngôi chùa, cũng chính
    là y xá chữa bệnh. Ông tập hợp nhiều
    phương thuốc quý cho y học cổ truyền
    Việt Nam.

    Hình 4. Đền thờ Tuệ Tĩnh
    (xã Cẩm Văn, huyện Cẩm Giàng)

    Thời Lê sơ, cùng với việc đề cao giáo dục, khoa cử của nhà nước, giáo dục Hải
    Dương cũng phát triển thêm một bước mới. Văn miếu trấn Hải Dương được xây dựng
    vào thế kỉ XV tại xã Vĩnh Lại, huyện Đường An (nay thuộc xã Vĩnh Tuy, huyện Bình
    Giang) là một biểu tượng về sự phát triển giáo dục xứ Đông. Qua các khoa thi dưới
    thời Lê sơ với 31 kì thi, lấy đỗ 647 tiến sĩ, thì xứ Đông đã có 221 người đỗ tiến sĩ. Đến
    triều Mạc (1527 – 1592) tổ chức 22 khoa thi, lấy đỗ 485 người, trong đó Hải Dương
    có 122 người.

    1. Nêu những thành tựu tiêu biểu về văn hoá - giáo dục của Hải Dương dưới thời
    Lý – Trần – Lê sơ.
    2. Đóng vai hướng dẫn viên du lịch, giới thiệu về văn hoá Hải Dương thế kỉ X – XVI.
    3. Sưu tầm câu chuyện kể về những nhân vật lịch sử, những danh nhân văn hoá
    của thời kì Lý – Trần – Lê sơ tại huyện, thị xã, thành phố nơi em sống.

    18

    Chủ đề 2
    HẢI DƯƠNG - PHÊN GIẬU PHÍA ĐÔNG
    TRONG CUỘC ĐẤU TRANH BẢO VỆ
    ĐỘC LẬP, TỰ CHỦ CỦA DÂN TỘC
    Mục tiêu
    • Nêu được tầm quan trọng về vị thế của trấn Hải Dương đối với các cuộc
    đấu tranh chống ngoại xâm.
    • Nhận xét, đánh giá được vai trò trấn thủ của Hải Dương trong quá trình
    đấu tranh chống ngoại xâm của dân tộc.
    • Giới thiệu được về một vài địa danh của Hải Dương gắn với chiến thắng
    trong đấu tranh chống xâm lược.

    Nghi môn đền Kiếp Bạc

    19

    VỊ TRÍ TRẤN THỦ CỦA HẢI DƯƠNG

    Từ khi nhà Lý dời đô từ Hoa Lư về Thăng Long (năm 1010), vùng đất
    Hải Dương trở thành một trong “tứ trấn” quan trọng và được coi là
    phên giậu phía Đông của kinh thành.
    Với vị trí đó, Hải Dương có vai trò như thế nào trong các cuộc đấu
    tranh chống ngoại xâm thế kỉ X - XVI?

    1 Địa thế của vùng đất Hải Dương

    Địa thế của Hải Dương có đặc điểm gì?

    Địa thế của Hải Dương xưa rất đặc biệt: phía Đông Bắc có dãy núi Yên Tử thuộc
    cánh cung Đông Triều tạo bức tường thành che chắn; phía Tây Bắc là hệ thống Lục
    Đầu Giang, là điểm chốt quan trọng chặn mọi tuyến đường thuỷ từ phía Đông Bắc vào
    kinh thành Thăng Long.

    Trong bốn trấn thủ: xứ Đông, xứ
    Bắc, xứ Đoài, xứ Nam, Hải Dương là
    một trấn thủ trọng yếu ở phía Đông, bảo
    vệ kinh thành Thăng Long.

    Hình 1. Lược đồ tứ trấn của kinh thành Thăng Long

    20

    Lục Đầu Giang là nơi hội tụ của
    sáu dòng sông: sông Thương, sông
    Lục Nam, sông Cầu, sông Đuống, sông
    Thái Bình và sông Kinh Thầy. Đây là
    con đường thuỷ duy nhất từ phía Đông
    Bắc vào Thăng Long.

    Hình 2. Lược đồ Lục Đầu Giang

    Là một trong “tứ trấn” của kinh thành, với địa thế đặc biệt nên từ thế kỉ X đến thế
    kỉ XVI, Hải Dương luôn giữ vai trò là “phên giậu” trọng yếu trong các cuộc đấu tranh
    bảo vệ nền độc lập của dân tộc.
    2 Vai trò trấn thủ của Hải Dương trong các cuộc đấu tranh chống xâm lược thế
    kỉ X – XVI
    Vai trò trấn thủ của Hải Dương được thể hiện như thế nào trong các cuộc
    kháng chiến chống xâm lược thế kỉ X – XVI?

    Là vùng đất có địa thế hiểm yếu về quân sự nên trong suốt tiến trình đấu tranh
    chống xâm lược thế kỉ X – XVI, Hải Dương luôn khẳng định vai trò là một trấn thủ quan
    trọng của phía Đông kinh thành Thăng Long.
    Năm 981, vua Lê đã chọn
    Dược Đậu Trang (An Lạc –
    Chí Linh) làm nơi đóng đại
    bản doanh để kháng chiến
    chống quân Tống xâm lược
    lần thứ nhất.
    Hình 3. Đền Cao thờ vua Lê Đại Hành tại
    thành phố Chí Linh

    21

    Năm 1077, phòng tuyến
    Vạn Xuân khu vực sông Lục
    Đầu tạo thành bức tường thành
    vững chắc góp phần quan
    trọng trong chiến thắng quân
    Tống xâm lược lần thứ hai.

    Hình 4. Lược đồ cuộc kháng chiến chống Tống
    năm 1077

    Thời nhà Trần, đại bản
    doanh Vạn Kiếp góp phần
    quyết định làm nên thắng lợi
    trong cuộc kháng chiến chống
    quân Nguyên cuối thế kỉ XIII.

    Hình 5. Sông nước Vạn Kiếp

    Những thắng lợi quyết định gắn với Hải Dương thế kỉ X – XVI đã khẳng định vai
    trò “phên giậu” của vùng đất xứ Đông, đồng thời khẳng định truyền thống yêu nước, ý
    chí đấu tranh kiên cường của nhân dân địa phương trong công cuộc bảo vệ đất nước.

    1. Kể tên những trận đánh, chiến thắng gắn với vùng đất Hải Dương trong quá trình
    đấu tranh chống ngoại xâm của dân tộc thế kỉ X – XVI.
    2. Đánh giá vai trò của vùng đất Hải Dương trong quá trình đấu tranh chống xâm lược
    thế kỉ X – XVI.
    3. Giới thiệu về một địa danh tại Hải Dương từng được coi là trấn thủ trong đấu tranh
    chống ngoại xâm thế kỉ X – XVI.

    22

    MỘT SỐ CHIẾN THẮNG TIÊU BIỂU GẮN
    VỚI VÙNG ĐẤT HẢI DƯƠNG

    Hai câu đối tại Nghi môn đền Kiếp Bạc có nội dung:
    “Kiếp Bạc muôn ngọn núi đều có hùng khí của kiếm thiêng
    Lục Đầu không còn nước nào chẳng vọng tiếng Thu”
    Vùng đất Vạn Kiếp; Lục Đầu Giang đã ghi dấu những chiến công oai
    hùng của dân tộc trong đấu tranh chống ngoại xâm như thế nào?

    1 Chiến thắng Lục Đầu Giang năm 981

    Chiến thắng Lục Đầu Giang năm 981 đã diễn ra như thế nào?

    Trong cuộc kháng chiến chống quân Tống lần thứ nhất, vùng đất Hải Dương tuy
    không phải là địa bàn diễn ra các trận quyết chiến chiến lược, nhưng với vai trò là một
    vị trí quan trọng nên nhân dân Hải Dương, đặc biệt là nhân dân Vạn Kiếp đã góp phần
    đáng kể vào sự nghiệp đánh thắng quân Tống.
    Đầu năm 981, quân Tống xâm lược nước ta theo hai đường thuỷ, bộ. Cánh quân
    thuỷ do Hầu Nhân Bảo chỉ huy tiến vào nước ta theo cửa sông Bạch Đằng. Trước sức
    mạnh của quân Tống, lực lượng quân của Đại Cồ Việt không giữ được cửa ngõ Bạch
    Đằng. Lê Hoàn cho rút quân về vùng núi thuộc Kinh Môn và Chí Linh để vừa củng cố
    lực lượng, vừa phát triển chiến tranh du kích, làm suy yếu quân Tống. Đặc biệt, Lê
    Hoàn đã cho xây dựng tuyến phòng thủ vững chắc trên sông Lục Đầu.
    Tháng 2 và tháng 3 năm 981, nghĩa quân đánh thắng nhiều trận trên sông Kinh
    Thầy và Lục Đầu Giang, tạo nền tảng cho chiến thắng cuối cùng trên sông Bạch Đằng
    vào tháng 4 năm 981.

    23

    Ngày 30 Tết năm Canh Thìn (tức ngày
    7 – 2 – 981), Hầu Nhân Bảo chỉ huy cánh
    quân thuỷ tiến theo sông Kinh Thầy vào
    sông Lục Đầu nhằm tiến vào Đại La, làm
    bàn đạp tiến đánh Hoa Lư. Chiến tuyến
    Lục Đầu Giang với hệ thống núi sông hiểm
    trở, cùng với sự chỉ huy trực tiếp của Lê
    Hoàn cùng các tướng Trần Công Ích, Trần
    Bảo Chung,… đã trở thành phòng tuyến
    vững chắc, làm tiêu hao sinh lực và chặn
    đứng đường tiến công của quân Tống.

    Hình 1. Lược đồ cuộc kháng chiến chống Tống
    năm 981

    Thất bại ở sông Lục Đầu đã làm quân Tống suy yếu, rệu rã, tạo thời cơ cho quân
    dân Đại Cồ Việt đẩy mạnh tiến công, đi đến thắng lợi cuối cùng trên sông Bạch Đằng
    vào tháng 4 năm 981.
    Trong cuộc kháng chiến chống Tống năm 981, Lục Đầu Giang là một tuyến phòng
    thủ trọng yếu, khẳng định vai trò “phên giậu” của đất Hồng Châu. Nhân dân Hồng
    Châu đã đóng góp nhiều nhân tài, vật lực, đưa cuộc kháng chiến đến thắng lợi.
    2 Chiến thắng quân Nguyên tại Vạn Kiếp
    a. Năm 1285
    Đọc thông tin và quan sát lược đồ hình 3 (trang 25), hãy cho biết những nét
    diễn biến chính về trận đánh tại Vạn Kiếp trong cuộc kháng chiến chống quân
    Nguyên năm 1285.

    Vùng đất Vạn Kiếp thuộc lộ Hải Đông thời Trần (nay thuộc thành phố Chí Linh –
    Hải Dương) được bao bọc bởi hệ thống núi hiểm trở: núi Vạn Yên, Bắc Đẩu, Nam Tào,…
    nhìn ra sông Lục Đầu. Đây là đầu mối huyết mạch giao thông thuỷ, bộ trấn giữ cửa ngõ
    phía Đông kinh thành Thăng Long.
    Sớm nhận ra vị trí chiến lược quan trọng của Vạn Kiếp và Lục Đầu Giang, ngay sau
    cuộc kháng chiến chống quân Mông Cổ lần thứ nhất năm 1258, Trần Quốc Tuấn đã
    chọn nơi này để xây dựng chiến luỹ quân sự trọng yếu của đất nước.
    24

    Đại bản doanh Vạn Kiếp là một
    khu vực rộng lớn, có dãy núi Trán Rồng
    hình tay ngai, bao bọc thung lũng sông
    Thương, có thể tập kết hàng nghìn
    chiến thuyền. Hệ thống núi rừng của
    cánh cung Yên Tử có thể là căn cứ an
    toàn cho hàng vạn quân. Trên đỉnh núi
    có thể quan sát rõ cả một vùng bao la,
    tạo thế chủ động cho quân sĩ.
    Hình 2. Một thung lũng sông Thương ăn sâu
    vào Vạn Kiếp

    Năm 1282, trước kế hoạch tấn công Đại Việt của quân Nguyên, nhà Trần đã tổ
    chức Hội nghị Vương hầu bách quan (Hội nghị Bình Than) tại Trần Xá bên dòng sông
    Kinh Thầy (nay thuộc xã Nam Hưng, huyện Nam Sách) để bàn kế sách đánh giặc.
    Trong quá trình nhà Trần thực hiện kế sách
    "vườn không nhà trống" (từ tháng 2 – 1285),
    triều đình rút về Thiên Trường (đất Nam Định
    cũ) và Trường Yên (Ninh Bình), Trần Quốc
    Tuấn đã cho tập trung lực lượng, dựa vào địa
    hình hiểm trở của hệ thống núi, sông tại Vạn
    Kiếp để xây dựng một hệ thống điểm chốt
    chặn trọng yếu, nhằm tiêu diệt cánh quân thuỷ
    của địch rút khỏi Thăng Long.
    Từ tháng 4 đến tháng 6 – 1285, quân nhà
    Trần bắt đầu phản công quân Nguyên trên
    khắp các chiến trường. Sau những thất bại tại
    Hàm Tử, Chương Dương và Thăng Long, quân
    Nguyên đã rút chạy khỏi Thăng Long. Ngày 10
    – 6 – 1285, cánh quân của Thoát Hoan rút chạy
    nhưng bị chặn đánh tại sông Như Nguyệt nên
    đã chuyển hướng, rút theo đường sông Thương.

    Hình 3. Lược đồ cuộc kháng chiến chống quân
    Nguyên lần thứ hai (năm 1285)

    25

    Tại sông Thương, Vạn Kiếp, lực lượng
    mai phục của Trần Quốc Tuấn đã tiêu diệt
    phần lớn cánh quân thuỷ của địch, Thoát
    Hoan phải trốn trong ống đồng để rút khỏi
    Vạn Kiếp.

    Hình 4. Tranh vẽ trận Vạn Kiếp năm 1285

    Vạn Kiếp trở thành mồ chôn quân giặc, kết thúc thắng lợi cuộc kháng chiến chống
    quân Nguyên xâm lược lần thứ hai. Chiến thắng Vạn Kiếp có sự đóng góp to lớn của nhân
    dân Hải Dương nói chung, nhân dân Vạn Kiếp nói riêng.



    b. Năm 1288

    Quan sát lược đồ hình 5 (trang 26) và cho biết: Vạn Kiếp có vai trò như thế
    nào trong cuộc kháng chiến chống quân Nguyên năm 1288?

    Nhận thấy vai trò trọng yếu của Vạn Kiếp, trong cuộc xâm lược Đại Việt lần thứ ba
    năm 1288, quân Nguyên quyết chiếm Vạn Kiếp nhằm tạo bước đệm vững chắc để tấn
    công vào Thăng Long. Vạn Kiếp một lần nữa trở thành chiến trường của cuộc chiến.

    Hình 5. Lược đồ kháng chiến chống quân Nguyên năm 1288

    26

    Đầu tháng 1 – 1288, quân của Ô Mã Nhi và Thoát Hoan cùng đánh chiếm Vạn
    Kiếp, sông Lục Đầu và núi Chí Linh, rồi từ đó tiến vào Thăng Long. Một lần nữa, nhà
    Trần thực hiện “vườn không nhà trống”. Sau hơn hai tháng chiến đấu, do hết lương
    thực, từ tháng 3 – 1288 Thoát Hoan và Ô Mã Nhi đã rút về Vạn Kiếp rồi chia ra hai
    đường thuỷ, bộ để rút lui. Ngày 9 – 4 – 1288, Ô Mã Nhi cùng tàn quân rút theo đường
    thuỷ. Vạn Kiếp và sông Bạch Đằng đã trở thành một chiến trường thống nhất, quân
    của Trần Quốc Tuấn đã bắt sống tướng giặc Ô Mã Nhi và tiêu diệt phần lớn cánh quân
    thuỷ của địch, số còn lại rút về Vạn Kiếp, bị quân ta tấn công tiêu diệt.
    Chiến thắng quân Nguyên là một trong những chiến công vĩ đại bậc nhất trong
    lịch sử đấu tranh chống ngoại xâm của dân tộc ta. Vùng đất Hải Dương không chỉ là
    nơi cung cấp nhân tài, vật lực cho kháng chiến mà còn là nơi diễn ra những trận đánh
    quyết liệt nhất, ghi dấu những trang sử hào hùng của dân tộc Việt Nam.

    1. Đánh giá vai trò của nhân dân Hải Dương đối với các cuộc kháng chiến chống
    ngoại xâm của Việt Nam trong các thế kỉ X – XV.
    2. Giới thiệu những dấu tích của chiến trường Vạn Kiếp xưa tại khu vực Kiếp Bạc
    ngày nay.

    KẾT NỐI DI SẢN
    Thái ấp Vạn Kiếp là nơi Trần Hưng Đạo đã sống, chiến đấu và trút hơi
    thở cuối cùng. Tại đây, ông đã viết các tác phẩm như Binh thư yếu lược;
    Vạn Kiếp tông bí truyền thư,… tổng kết kinh nghiệm trong đấu tranh giữ
    nước, chống giặc ngoại xâm. Cũng chính nơi đây, Trần Hưng Đạo đã nói
    những lời trăng trối cuối cùng với vua Trần về kế sách giữ nước: “Có thu
    dụng quân lính như cha con mới dùng quân được” và “Thời bình phải khoan
    thư sức dân, làm kế sâu rễ bền gốc, đó là thượng sách giữ nước”.

    27

    Chủ đề 3
    NGHỆ THUẬT TRUYỀN THỐNG CỦA
    HẢI DƯƠNG
    Mục tiêu
    • Trình bày được sự xuất hiện và phát triển của một số nghệ thuật truyền
    thống của Hải Dương (nghệ thuật chèo, ca trù, múa rối nước, hát trống
    quân) của Hải Dương từ thế kỉ X đến đầu thế kỉ XVI.
    • Nhận xét được giá trị văn hoá của các loại hình nghệ thuật này đối với
    đời sống nhân dân địa phương.
    • Trải nghiệm, thực hành một số nghệ thuật truyền thống của địa phương;
    nêu các giải pháp bảo tồn các loại hình nghệ thuật này trong giai đoạn
    hiện nay.

    28

    Hải Dương là vùng đất thuộc đồng bằng châu thổ sông Hồng, có
    bề dày truyền thống lịch sử và văn hoá. Gắn với nền kinh tế nông
    nghiệp lúa nước, vùng đất xứ Đông nổi tiếng là một trong những cái
    nôi của nhiều loại hình nghệ thuật dân gian như hát chèo, ca trù,
    múa rối nước, hát trống quân,…
    Vậy những nghệ thuật truyền thống trên đã phát triển tại Hải Dương
    như thế nào?

    NGHỆ THUẬT CHÈO

    Hải Dương có phải một trong những cái nôi của nghệ thuật chèo không?

    Chèo là loại hình nghệ thuật sân khấu cổ truyền của Việt Nam, được ra đời từ thế
    kỉ X. Người nghệ sĩ dân gian đầu tiên được sử sách ghi nhận là bà P...
     
    Gửi ý kiến

    Việc đọc rất quan trọng. Nếu bạn biết cách đọc, cả thế giới sẽ mở ra cho bạn. (Barack Obama)

    KÍNH CHÀO QUÝ THẦY CÔ VÀ QUÝ BẠN ĐỌC ĐÃ ĐẾN TƯỜNG WEBSITE CỦA THƯ VIỆN TRƯỜNG TTHCS CẨM HƯNG - CẨM GIÀNG - HẢI DƯƠNG !