Chủ tịch Hồ Chí Minh với đọc sách và tự học
giáo dục địa phương 7

- 0 / 0
(Tài liệu chưa được thẩm định)
Nguồn: sưu tầm
Người gửi: Vũ Thị Hoa
Ngày gửi: 08h:55' 14-01-2025
Dung lượng: 28.0 MB
Số lượt tải: 2
Nguồn: sưu tầm
Người gửi: Vũ Thị Hoa
Ngày gửi: 08h:55' 14-01-2025
Dung lượng: 28.0 MB
Số lượt tải: 2
Số lượt thích:
0 người
UỶ BAN NHÂN DÂN TỈNH HẢI DƯƠNG
SỞ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
LƯƠNG VĂN VIỆT (Tổng Chủ biên)
ĐỖ DUY HƯNG (Chủ biên)
NGUYỄN THANH THUỶ - ĐẶNG VĂN BÌNH - PHẠM VĂN KHANH
7
Mục lục
Lời nói đầu
3
Hướng dẫn sử dụng tài liệu
4
Chủ đề 1. Lịch sử Hải Dương từ thế kỉ X đến đầu thế kỉ XVI
5
Chủ đề 2. Hải Dương – Phên giậu phía đông trong cuộc đấu tranh
2
bảo vệ độc lập, tự chủ của dân tộc
19
Chủ đề 3. Nghệ thuật truyền thống của Hải Dương
28
Chủ đề 4. Tục ngữ, ca dao của Hải Dương
40
Chủ đề 5. Tài nguyên thiên nhiên
50
Chủ đề 6. Thiên tai và phòng chống thiên tai
70
Lời nói đầu
Các em học sinh thân mến!
Tài liệu Giáo dục địa phương tỉnh Hải Dương – Lớp 7 sẽ tiếp tục đồng hành cùng
các em học sinh trong việc tiếp cận và khám phá các vấn đề về văn hoá, lịch sử truyền
thống; địa lí, kinh tế, hướng nghiệp; chính trị – xã hội, môi trường của xứ Đông xưa,
Hải Dương nay.
Với sáu chủ đề được Ban Biên soạn lựa chọn kĩ lưỡng, bám sát mục tiêu, yêu cầu
của nội dung giáo dục địa phương, các em sẽ có cơ hội tìm hiểu, trải nghiệm, khám
phá lịch sử phát triển của Hải Dương từ thế kỉ X đến đầu thế kỉ XVI; vai trò của Hải
Dương trong cuộc đấu tranh bảo vệ độc lập, tự chủ của dân tộc; nghệ thuật truyền
thống của Hải Dương; tục ngữ, ca dao của Hải Dương; tài nguyên thiên nhiên của Hải
Dương; thiên tai và phòng chống thiên tai của tỉnh.
Thông qua các hoạt động khám phá tri thức, các em có điều kiện phát huy, phát
triển một số năng lực cốt lõi và phẩm chất chủ yếu cần có của học sinh trung học cơ
sở. Qua đó, bồi dưỡng niềm tự hào, tình yêu quê hương, ý thức giữ gìn, bảo tồn, phát
huy các giá trị truyền thống của quê hương; vận dụng những điều đã học vào giải
quyết những vấn đề nảy sinh từ thực tế của quê hương, góp phần bảo vệ môi trường
tự nhiên tại tỉnh Hải Dương nói riêng, cả nước nói chung.
Trong quá trình biên soạn, tài liệu không tránh khỏi những thiếu sót. Rất mong
nhận được ý kiến đóng góp của các các thầy cô giáo và các em học sinh để Tài liệu
giáo dục địa phương tỉnh Hải Dương – Lớp 7 ngày càng hoàn thiện hơn.
Ban Biên soạn
3
Hướng dẫn sử dụng tài liệu
Các em học sinh thân mến!
Tài liệu Giáo dục địa phương tỉnh Hải Dương – Lớp 7 được biên soạn gồm sáu chủ
đề thuộc các lĩnh vực địa lí, lịch sử và ngữ văn; mỗi lĩnh vực có đặc điểm riêng. Các em
cần bám sát đặc trưng của từng môn học để tìm hiểu, khám phá và chiếm lĩnh tri thức.
Mỗi phần, mỗi bài học cụ thể của chủ đề thường bắt đầu bằng các nhiệm vụ, tình
huống cần giải quyết để các em kết nối với tri thức đã biết và tiếp tục tìm kiếm, thu
thập thông tin cần thiết trước, trong và sau khi tìm hiểu mỗi bài học và cả chủ đề.
Phần hình thành kiến thức, đọc hiểu văn bản được thể hiện sinh động qua kênh
chữ, kênh hình và một số hình ảnh minh hoạ. Những câu hỏi, hoạt động, hướng dẫn
giúp các em tự tin khám phá kiến thức về địa lí, lịch sử và văn hoá của Hải Dương.
Phần thực hành, luyện tập là những câu hỏi, bài tập nhằm củng cố, khắc sâu kiến
thức, rèn kĩ năng nhận diện, nhận xét, đánh giá, bước đầu giải quyết một số vấn đề có
liên quan.
Phần vận dụng, mở rộng, tìm tòi, sáng tạo là những gợi ý, yêu cầu, định hướng để
các em kết nối tri thức của địa phương Hải Dương với tri thức chung của dân tộc và
thế giới; kết nối kiến thức nội môn, liên môn một cách chủ động, sáng tạo nhằm hình
thành các phẩm chất chủ yếu, phát triển các năng lực cốt lõi, sở trường, năng khiếu
của mỗi cá nhân một cách hiệu quả nhất.
Chúc các em tự giác, tự chủ, tự tin và sáng tạo trong học tập để đạt kết quả tốt nhất.
Ban Biên soạn
KÍ HIỆU DÙNG TRONG SÁCH
Hãy bảo quản, giữ gìn tài liệu để có thể dành tặng cho các em học sinh lớp sau nhé!
4
Chủ đề 1
LỊCH SỬ HẢI DƯƠNG
TỪ THẾ KỈ X ĐẾN ĐẦU THẾ KỈ XVI
Mục tiêu
• Trình bày được sự phát triển của xã hội, kinh tế, văn hoá Hải Dương từ
thế kỉ X đến thế kỉ XVI.
• Nhận xét được sự phát triển của kinh tế, văn hoá của Hải Dương trong
lịch sử.
• Tìm hiểu, giới thiệu được một số di tích lịch sử – văn hoá; thành tựu
văn hoá; nghề thủ công tiêu biểu của Hải Dương.
Bình gốm Chu Đậu thế kỉ XV được lưu tại Bảo tàng Topkapi Saray, Istanbul (Thổ Nhĩ Kỳ)
5
TÌNH HÌNH XÃ HỘI
Thế kỉ X được coi là mốc mở đầu thời đại phong kiến độc lập của
dân tộc Việt Nam. Xã hội phong kiến được thiết lập và từng bước
phát triển, đạt đến đỉnh cao trong các thế kỉ XV – XVI.
Vậy tình hình xã hội của Hải Dương đã phát triển như thế nào trong
các thế kỷ X - XVI?
1 Tên gọi Hải Dương
Tên gọi Hải Dương được ra đời gắn với triều đại nào trong các thế kỉ X – XVI?
Từ thế kỉ X đến thế kỉ XVI, vùng đất Hải Dương mang nhiều tên gọi khác nhau qua
các triều đại.
Thời gian
Đơn vị hành chính
Tên gọi
Thời Lý
Lộ
Hồng Lộ
Thời Trần
Lộ
Hải Đông
Thời Lê sơ (1428 – 1469)
Thừa tuyên
Nam Sách
Thời Lê sơ (từ 1469)
Thừa tuyên
Hải Dương
Hải Dương khi đó giáp biển nên tên gọi Hải Dương có hàm ý là “ánh dương miền duyên
hải” . Bên cạnh tên gọi hành chính, từ thời nhà Lý, với vị trí là một trong tứ trấn quan trọng
của kinh thành Thăng Long nên vùng đất Hải Dương còn mang tên gọi xứ Đông.
1
1
6
Phan Huy Chú, Lịch triều hiến chương loại chí, tập 2, tr100.
2 Tình hình xã hội Hải Dương
Trong các thế kỉ X – XVI, xã hội Hải Dương đã có những chuyển biến gì?
Thế kỉ X, dưới thời Đinh, Tiền Lê, ruộng đất chủ yếu là ruộng đất công của các
làng, xã, chia cho nông dân cày cấy. Tuy nhiên, cuối thế kỉ X bắt đầu xuất hiện một
số hào trưởng địa phương là quý tộc, sở hữu nhiều ruộng đất.
Thời Lý – Trần, chế độ phong ruộng đất cho các vương hầu, quý tộc và những
người có công với triều đình đã đưa đến sự xuất hiện nhiều thái ấp. Tại vùng đất Hải
Dương (Hải Đông lộ) đã có tám thái ấp rộng lớn. Giai cấp địa chủ từng bước được
hình thành.
Thời Trần, những người
thuộc hàng tôn thất và những
người tài giỏi, lập công lớn
trong các cuộc kháng chiến
chống xâm lược Nguyên Mông
được ban quốc tính (họ nhà
vua) được triều đình ban thái
ấp, ruộng đất này không phải
nộp tô thuế cho nhà nước.
Trên tấm bia “Tam Bảo
địa” tại núi Phượng Hoàng (xã
Yên Đức, Đông Triều nay thuộc
Quảng Ninh), ghi rõ “Chủ đất
làm chức Hành khiển được
vua Trần ban quốc tính là Trần
Khắc Chung và vợ là Bảo Hoàn
công chúa…”
Hình 1. Bia khắc xác nhận thái ấp của
Trần Khắc Chung trên núi Phượng Hoàng
(xã Yên Đức, Đông Triều nay thuộc Quảng Ninh)
7
Dưới thời nhà Trần, Hải Dương có các thái ấp của An Sinh Vương Trần Liễu ở
vùng Kinh Môn; thái ấp của Trần Khắc Chung ở Đông Triều; thái ấp của Trần Quốc
Tuấn; thái ấp của Chiêu Vũ đại vương Trần Quốc Chẩn và thái ấp của Thượng tướng
Trần Phó Duyệt (cha của Trần Khánh Dư) ở Chí Linh1,… là những vùng đất rộng lớn.
Từ thời Hồ đến thời Lê sơ, tình trạng mua bán ruộng đất được nhà nước cho phép
nên ruộng đất tư nhân tăng nhanh, các thái ấp xuất hiện ngày càng nhiều, giai cấp
địa chủ ở Hải Dương không ngừng lớn mạnh. Chế độ phong kiến ngày càng phát triển
trong xã hội Hải Dương.
1. Giới thiệu về ý nghĩa của tên gọi Hải Dương quê hương em.
2. Tại sao ở Hải Dương từ thế kỉ X – XVI có nhiều thái ấp của các quan lại, quý tộc?
1
8
Nguyễn Trãi, Dư địa chí, H. KHXH, Hà Nội, 1976, tr218.
TÌNH HÌNH KINH TẾ
Qua năm đợt khảo cổ học từ năm 1983 đến năm 2014 và cuộc
trục vớt con tàu đắm tại Cù Lao Chàm năm 1997 đã có nhiều kết
luận quan trọng về sản phẩm gốm sứ Chu Đậu cũng như về trung
tâm sản xuất gốm sứ bậc nhất của Hải Dương và cả nước trong
các thế kỉ XV - XVI.
Vậy, tình hình kinh tế của Hải Dương đã phát triển như thế nào
trong các thế kỉ X - XVI?
1 Nông nghiệp
Kinh tế nông nghiệp tại Hải Dương phát triển như thế nào trong các thế kỉ
X – XVI?
Hải Dương là vùng đồng bằng màu mỡ, có “ruộng vào hạng thượng thượng”1 nên
từ thế kỉ X, Hải Dương đã được biết đến là một trong những địa phương có thế mạnh
trong sản xuất nông nghiệp.
Dưới thời Lý – Trần, do chính sách khuyến nông tích cực của triều đình nên
diện tích đất canh tác được mở rộng, kinh tế nông nghiệp vùng Hồng Châu bắt
đầu phát triển.
1
Nguyễn Trãi, Dư địa chí, H: KHXH, Hà Nội, 1976, tr218.
9
Sản xuất nông nghiệp phát triển quy mô lớn trong các thái ấp, điển hình là thái ấp
của Hưng Đạo đại vương Trần Quốc Tuấn ở Vạn Kiếp. Công lao của Công chúa Thiên
Thành là phu nhân của Trần Hưng Đạo trong việc phát triển sản xuất nông nghiệp, xây
dựng căn cứ hậu phương vững chắc phục vụ đại bản doanh Vạn Kiếp trong cuộc kháng
chiến chống quân Nguyên Mông xâm lược được lưu trong thần tích của làng Trung Quê
(xã Lê Lợi, thành phố Chí Linh). Ngày nay, dân gian còn truyền tụng câu ca:
“Trâu thì Mẫu thả Huyền Đinh
Lợn thì Mẫu thả cánh đồng Trung Quê”.
Thời Lê sơ, ruộng đất công làng xã ở Hải Dương được chia lại theo phép quân
điền, đê điều được củng cố, binh lính được về quê làm ruộng,… thúc đẩy kinh tế nông
nghiệp Hải Dương phát triển mạnh mẽ.
Đến thời Lê – Trịnh, ruộng đất công làng xã bị thu hẹp dần, chính quyền không
quan tâm đến thuỷ lợi và tổ chức khai hoang, kinh tế nông nghiệp bị suy giảm, nạn
mất mùa đói kém xảy ra liên miên. Đây là nguyên nhân làm bùng nổ các phong trào
đấu tranh của nông dân Hải Dương chống lại chính quyền phong kiến.
KẾT NỐI DI SẢN
Ngọc phả đền Đồng Bào thuộc xã Gia Xuyên, thành phố Hải Dương;
miếu Đông Cận xã Tân Tiến, đền Đươi xã Thống Nhất, huyện Gia Lộc; chùa
Cẩm Trục xã Ngọc Liên, huyện Cẩm Giàng… thờ Nguyên phi Ỷ Lan đều có
ghi công tích của bà dạy dân làng mở đất, cấy lúa, trồng dâu nuôi tằm.
2 Thủ công nghiệp
Kể tên những nghề thủ công phát triển tại Hải Dương trong các thế kỉ X - XVI?
10
Là vùng đất nhiều sản vật, cư dân đông đúc nên sản xuất thủ công nghiệp
của Hải Dương trong thời kì này phát triển mạnh mẽ với nhiều ngành nghề, tiêu
biểu là các ngành, nghề thủ công như: chạm khắc gỗ, đúc đồng, làm gốm sứ,…
Ở các làng xã xuất hiện ngày càng nhiều các làng nghề thủ công nhất là nghề
gốm sứ.
Hải Dương là một trong những địa phương sản xuất gốm sứ lớn nhất cả nước.
Từ thế kỉ X, nghề sản xuất gốm và đóng gạch ngói đã rất phát triển. Đến thời Trần,
nhiều làng nghề sản xuất gốm đã ra đời và phát triển mạnh mẽ như cơ sở sản
xuất gốm sứ Vạn Kiếp (thành phố Chí Linh); làng Gốm phường Cổ Thành (thành
phố Chí Linh); làng gốm Chu Đậu (nay thuộc xã Minh Tân, huyện Nam Sách). Thời
Lê sơ, nghề gốm phát triển mở rộng, xuất hiện thêm nhiều làng gốm như: làng
Cậy xã Long Xuyên (huyện Bình Giang), gốm Hợp Lễ xã Long Xuyên (huyện Bình
Giang). Thế kỉ XV – XVI, các sản phẩm gốm Chu Đậu, Hợp Lễ là những sản phẩm
tiêu biểu cho dòng gốm thời Lê ở Việt Nam và đã được giao thương với nhiều
nước trên thế giới.
Hình 1. Sản phẩm gốm Hợp Lễ, thế kỉ XV
Hình 2. Đĩa gốm Chu Đậu, thế kỉ XV – XVI
Các nghiên cứu cho thấy thế kỉ XIV – XV, nghề gốm Việt Nam đã có bước phát triển
mạnh không chỉ về số lượng mà cả về chất lượng. Nhiều trung tâm sản xuất gốm xuất
khẩu mới ra đời và phát triển nhanh cả về quy mô và tốc độ. Hải Dương có bảy làng chuyên
làm gốm tráng men là Chu Đậu, Mỹ Xá (huyện Nam Sách), Ngói, Cậy, Láo, Bá Thuỷ, Hợp Lễ
(huyện Bình Giang).
11
Hình 3. Bình gốm hoa lam Chu Đậu lưu tại
Bảo tàng Topkapi Saray Istanbul (Thổ Nhĩ
Kỳ) do nghệ nhân Bùi Thị Hý tạo năm 1450
Hình 4. Ấm gốm hoa lam hình chim phượng
Chu Đậu, thế kỉ XV (hiện vật trong con tàu đắm
ở Cù Lao Chàm)
Ngoài ra, nhiều ngành nghề thủ công khác được phát triển tại Hải Dương, gắn với
các địa phương như: trồng dâu nuôi tằm dệt vải tại Mao Điền, chạm khắc gỗ Đông
Giao, huyện Cẩm Giàng; nghề nhuộm Đan Loan, kim hoàn Châu Khê, huyện Bình
Giang; chạm khắc đá Kính Chủ, Phạm Thái, thị xã Kinh Môn; nghề đóng giày Tam
Lâm, huyện Gia Lộc,…
3 Thương nghiệp
Kinh tế thương nghiệp của Hải Dương phát triển như thế nào trong các
thế kỉ X – XVI?
Do có lợi thế về kinh tế nông nghiệp, thủ công nghiệp và giao thông thuỷ nên
trong các thế kỉ X – XVI, thương nghiệp Hải Dương rất phát triển.
12
Dưới thời Lý – Trần, thương cảng Vân Đồn là thương cảng quốc tế đầu tiên
của nước ta. Hải Dương nằm trên trục giao thông thuỷ quan trọng, nối kinh đô
Thăng Long với thương cảng Vân Đồn, có mạng lưới đường sông nối liền với các
tỉnh lân cận nên hoạt động buôn bán, giao thương phát triển mạnh mẽ. Thế kỉ XV
– XVI, Hải Dương đã trở thành một trung tâm thương nghiệp lớn ở khu vực đồng
bằng Bắc Bộ.
Từ thời Lê sơ, hệ thống
chợ ở Hải Dương đã phát triển
mạnh, thường ở mỗi xã hoặc vài
xã lân cận có một chợ chung,
họp vào những ngày nhất định
trong tháng. Nhiều cảng sông
có hoạt động giao thương tấp
nập, thuyền bè đi lại như mắc cửi
như bến Vạn Kiếp (Vạn Kiếp, Chí
Linh); bến Nhạn Loan (Cổ Thành,
Chí Linh); bến Cổ Phường thuộc
làng gốm Chu Đậu (Thái Tân,
Nam Sách); bến Tiên Kiều (xã
Đức Chính, Cẩm Giàng), bến Ninh
Hình 5. Tranh vẽ cảnh chợ làng thời Hậu Lê
Giang (thị trấn Ninh Giang),…
Hàng hoá được giao thương tại Hải Dương thời kì này chủ yếu là các sản phẩm
thủ công, đặc biệt là đồ gốm. Tại các phiên chợ, nhân dân buôn bán các sản phẩm
nông nghiệp như thóc, gạo, rau, hoa quả; các sản phẩm ngư nghiệp như tôm, cua, cá,
ốc; các sản phẩm thủ công mây, tre đan như rổ, rá, thúng, dần, sàng, nong, nia; các
loại gia súc, gia cầm như lợn, gà, chó, mèo; các loại vải vóc, đồ gốm sứ,…
Thời Lê sơ, gốm sứ Hải Dương có mặt ở hầu hết các tỉnh Bắc Bộ, Trung Bộ và
được giao thương với các nước trên thế giới nhiều nhất. Các sản phẩm gốm sứ của
Hải Dương không chỉ là mặt hàng phục vụ nội thương mà còn đáp ứng được yêu
cầu của ngoại thương. Sản phẩm gốm Chu Đậu được nhiều quốc gia ưa chuộng và
đã được giao thương với nhiều nước trên thế giới như: Trung Quốc, Nhật Bản và các
nước phương Tây.
13
Hình 6. Lược đồ về nơi có lưu giữ gốm Chu Đậu thế kỉ XV – XVI
1. Hoàn thành bảng thông tin về sự phát triển kinh tế của Hải Dương trong các thế kỉ
X - XVI:
Nội dung
Nông nghiệp
Thủ công nghiệp
Thương nghiệp
Điều kiện phát triển
Thành tựu
Đánh giá
2. Nhận xét về tình hình kinh tế của Hải Dương từ thế kỉ X – XVI.
3. Giới thiệu về một sản phẩm thủ công của Hải Dương thế kỉ X – XVI mà em thích.
14
TÌNH HÌNH VĂN HOÁ
Nhà nước Văn Lang, Âu Lạc được coi là thời kì đặt nền móng vững
chắc cho nền văn hoá bản địa của dân tộc Việt Nam. Qua quá
trình giao thoa văn hoá, tiếp thu có chọn lọc và cải biến, từ thế kỉ
X - XVI, nền văn hoá Đại Việt tiếp tục khởi sắc với nhiều thành tựu
rực rỡ.
Văn hoá Hải Dương đã phát triển như thế nào trong giai đoạn này?
1 Tín ngưỡng - tôn giáo
Văn hoá Hải Dương trong các thế kỉ X – XVI có bước phát triển mới như
thế nào?
Từ thế kỉ X, bên cạnh việc duy trì các tín ngưỡng như thờ cúng tổ tiên, tôn vinh
những người có công với nước, sùng bái thiên nhiên,… đạo Phật ở Hải Dương đã
nhanh chóng phát triển. Nhiều ngôi chùa đã được xây dựng trong thời kì này như:
chùa Động Ngọ (xã Tiền Tiến, thành phố Hải Dương); chùa Liên Hoa (xã Nhật Tân,
huyện Gia Lộc); chùa Kỳ Đà (phường Ái Quốc, thành phố Hải Dương), chùa Huyền
Thiên (phường Văn An, thành phố Chí Linh),…
15
Chùa Động Ngọ (xã Tiền Tiến,
huyện Thanh Hà, nay thuộc thành phố
Hải Dương) được xây dựng bởi Quốc
sư Khuông Việt vào năm 971 là minh
chứng cho sự tồn tại và phát triển của
đạo Phật ở Hải Dương từ thế kỉ X.
Hình 1. Chùa Động Ngọ
(xã Tiền Tiến, thành phố Hải Dương)
Dưới thời Lý – Trần, Phật giáo được coi trọng và chiếm địa vị độc tôn. Ở Hải
Dương, chùa được xây dựng tại các địa phương. Đặc biệt, vào thế kỉ XIII, trên vùng
đất Hải Dương có sự ra đời của thiền phái Phật giáo bản địa là Thiền phái Trúc Lâm
với một số vị cao tăng tiêu biểu như Pháp Loa, Tuệ Tĩnh.
Tháng 8 năm 1299, Thượng hoàng Trần Nhân Tông đi tu tại núi Yên Tử, sáng lập
ra Thiền phái Trúc Lâm. Cùng phát triển thiền phái này với vua là các Thiền sư kiệt xuất
gồm Pháp Loa và Huyền Quang, gọi chung là Trúc Lâm Tam tổ. Tư tưởng của Thiền
phái này hướng về con người với tinh thần yêu nước “Phật tại tâm, mọi người đều có thể
thành Phật, bất luận là tu sĩ xuất gia hay tại gia, nam hay nữ chỉ cần sống thiện, sống tốt
là thành Phật”.
Chùa Côn Sơn là nơi Trần Nhân
Tông, Pháp Loa, Huyền Quang là ba vị
tổ sáng lập thiền phái này đã từng tu
hành và thuyết pháp ở đây. Thiền sư
Huyền Quang là trụ trì chùa Côn Sơn
đã viên tịch tại đây vào ngày 23 tháng
Giêng năm Giáp Tuất (1334), vì thế Côn
Sơn được gọi là một trong những chốn
tổ của Thiền phái Trúc Lâm.
16
Hình 2. Chùa Côn Sơn (thành phố Chí Linh)
Bên cạnh sự phát triển của đạo Phật, từ thời Trần, Nho giáo và Đạo giáo từng
bước ảnh hưởng sâu rộng vào Hải Dương, tạo nên nét đặc sắc văn hoá “tam giáo
đồng nguyên”.
2 Giáo dục, khoa cử
Giáo dục của Hải Dương thế kỉ X – XVI phát triển như thế nào?
Từ thời nhà Lý, ngay từ những khoa thi đầu tiên, đất Hồng Châu (Hải Dương) đã
có Mạc Hiển Tích, người xã Lũng Động – huyện Chí Linh (nay là xã Nam Tân, huyện
Nam Sách) đỗ đầu khoa thi năm Bính Dần (1086) và trở thành người khai khoa cho
tỉnh Hải Dương. Trong số sáu khoa thi thời Lý, vùng đất Hải Dương (Hồng Lộ) có năm
người đỗ đạt.
Đến thời Trần, Hồng Châu có nhiều người đỗ đạt cao ra làm quan. Trong lĩnh vực
ngoại giao và văn học có Trạng nguyên Mạc Đĩnh Chi; cống hiến cho sự nghiệp giáo
dục có thầy giáo Chu Văn An; lĩnh vực y học có Đại danh y Tuệ Tĩnh,... Ngoài ra, còn
rất nhiều người đỗ đạt thành danh như: Phạm Sư Mạnh, Nguyễn Đại Năng (Kinh Môn);
Nguyễn Phi Khanh (Chí Linh); Lê Cảnh Tuân (Bình Giang),…
Mạc Đĩnh Chi (1280 – 1346)
người làng Lũng Động, huyện
Chí Linh (nay thuộc xã Nam
Tân, huyện Nam Sách, tỉnh Hải
Dương). Ông đỗ Trạng nguyên và
làm quan dưới thời vua Trần Anh
Tông. Ông được cử đi sứ Trung
Quốc và được vua Nguyên phong
“Lưỡng quốc Trạng nguyên”
(Trạng nguyên hai nước).
Hình 3. Đền thờ Mạc Đĩnh Chi (huyện Nam Sách)
17
Tuệ Tĩnh (1330 – 1385), người làng
Nghĩa Phú, tổng Văn Thai, phủ Thượng
Hồng (nay là thôn Nghĩa Phú, xã Cẩm
Vũ, huyện Cẩm Giàng, tỉnh Hải Dương) là
người mở đầu cho nền y dược cổ truyền
Việt Nam, được tôn là vị thánh thuốc Nam.
Ông đã xây dựng 24 ngôi chùa, cũng chính
là y xá chữa bệnh. Ông tập hợp nhiều
phương thuốc quý cho y học cổ truyền
Việt Nam.
Hình 4. Đền thờ Tuệ Tĩnh
(xã Cẩm Văn, huyện Cẩm Giàng)
Thời Lê sơ, cùng với việc đề cao giáo dục, khoa cử của nhà nước, giáo dục Hải
Dương cũng phát triển thêm một bước mới. Văn miếu trấn Hải Dương được xây dựng
vào thế kỉ XV tại xã Vĩnh Lại, huyện Đường An (nay thuộc xã Vĩnh Tuy, huyện Bình
Giang) là một biểu tượng về sự phát triển giáo dục xứ Đông. Qua các khoa thi dưới
thời Lê sơ với 31 kì thi, lấy đỗ 647 tiến sĩ, thì xứ Đông đã có 221 người đỗ tiến sĩ. Đến
triều Mạc (1527 – 1592) tổ chức 22 khoa thi, lấy đỗ 485 người, trong đó Hải Dương
có 122 người.
1. Nêu những thành tựu tiêu biểu về văn hoá - giáo dục của Hải Dương dưới thời
Lý – Trần – Lê sơ.
2. Đóng vai hướng dẫn viên du lịch, giới thiệu về văn hoá Hải Dương thế kỉ X – XVI.
3. Sưu tầm câu chuyện kể về những nhân vật lịch sử, những danh nhân văn hoá
của thời kì Lý – Trần – Lê sơ tại huyện, thị xã, thành phố nơi em sống.
18
Chủ đề 2
HẢI DƯƠNG - PHÊN GIẬU PHÍA ĐÔNG
TRONG CUỘC ĐẤU TRANH BẢO VỆ
ĐỘC LẬP, TỰ CHỦ CỦA DÂN TỘC
Mục tiêu
• Nêu được tầm quan trọng về vị thế của trấn Hải Dương đối với các cuộc
đấu tranh chống ngoại xâm.
• Nhận xét, đánh giá được vai trò trấn thủ của Hải Dương trong quá trình
đấu tranh chống ngoại xâm của dân tộc.
• Giới thiệu được về một vài địa danh của Hải Dương gắn với chiến thắng
trong đấu tranh chống xâm lược.
Nghi môn đền Kiếp Bạc
19
VỊ TRÍ TRẤN THỦ CỦA HẢI DƯƠNG
Từ khi nhà Lý dời đô từ Hoa Lư về Thăng Long (năm 1010), vùng đất
Hải Dương trở thành một trong “tứ trấn” quan trọng và được coi là
phên giậu phía Đông của kinh thành.
Với vị trí đó, Hải Dương có vai trò như thế nào trong các cuộc đấu
tranh chống ngoại xâm thế kỉ X - XVI?
1 Địa thế của vùng đất Hải Dương
Địa thế của Hải Dương có đặc điểm gì?
Địa thế của Hải Dương xưa rất đặc biệt: phía Đông Bắc có dãy núi Yên Tử thuộc
cánh cung Đông Triều tạo bức tường thành che chắn; phía Tây Bắc là hệ thống Lục
Đầu Giang, là điểm chốt quan trọng chặn mọi tuyến đường thuỷ từ phía Đông Bắc vào
kinh thành Thăng Long.
Trong bốn trấn thủ: xứ Đông, xứ
Bắc, xứ Đoài, xứ Nam, Hải Dương là
một trấn thủ trọng yếu ở phía Đông, bảo
vệ kinh thành Thăng Long.
Hình 1. Lược đồ tứ trấn của kinh thành Thăng Long
20
Lục Đầu Giang là nơi hội tụ của
sáu dòng sông: sông Thương, sông
Lục Nam, sông Cầu, sông Đuống, sông
Thái Bình và sông Kinh Thầy. Đây là
con đường thuỷ duy nhất từ phía Đông
Bắc vào Thăng Long.
Hình 2. Lược đồ Lục Đầu Giang
Là một trong “tứ trấn” của kinh thành, với địa thế đặc biệt nên từ thế kỉ X đến thế
kỉ XVI, Hải Dương luôn giữ vai trò là “phên giậu” trọng yếu trong các cuộc đấu tranh
bảo vệ nền độc lập của dân tộc.
2 Vai trò trấn thủ của Hải Dương trong các cuộc đấu tranh chống xâm lược thế
kỉ X – XVI
Vai trò trấn thủ của Hải Dương được thể hiện như thế nào trong các cuộc
kháng chiến chống xâm lược thế kỉ X – XVI?
Là vùng đất có địa thế hiểm yếu về quân sự nên trong suốt tiến trình đấu tranh
chống xâm lược thế kỉ X – XVI, Hải Dương luôn khẳng định vai trò là một trấn thủ quan
trọng của phía Đông kinh thành Thăng Long.
Năm 981, vua Lê đã chọn
Dược Đậu Trang (An Lạc –
Chí Linh) làm nơi đóng đại
bản doanh để kháng chiến
chống quân Tống xâm lược
lần thứ nhất.
Hình 3. Đền Cao thờ vua Lê Đại Hành tại
thành phố Chí Linh
21
Năm 1077, phòng tuyến
Vạn Xuân khu vực sông Lục
Đầu tạo thành bức tường thành
vững chắc góp phần quan
trọng trong chiến thắng quân
Tống xâm lược lần thứ hai.
Hình 4. Lược đồ cuộc kháng chiến chống Tống
năm 1077
Thời nhà Trần, đại bản
doanh Vạn Kiếp góp phần
quyết định làm nên thắng lợi
trong cuộc kháng chiến chống
quân Nguyên cuối thế kỉ XIII.
Hình 5. Sông nước Vạn Kiếp
Những thắng lợi quyết định gắn với Hải Dương thế kỉ X – XVI đã khẳng định vai
trò “phên giậu” của vùng đất xứ Đông, đồng thời khẳng định truyền thống yêu nước, ý
chí đấu tranh kiên cường của nhân dân địa phương trong công cuộc bảo vệ đất nước.
1. Kể tên những trận đánh, chiến thắng gắn với vùng đất Hải Dương trong quá trình
đấu tranh chống ngoại xâm của dân tộc thế kỉ X – XVI.
2. Đánh giá vai trò của vùng đất Hải Dương trong quá trình đấu tranh chống xâm lược
thế kỉ X – XVI.
3. Giới thiệu về một địa danh tại Hải Dương từng được coi là trấn thủ trong đấu tranh
chống ngoại xâm thế kỉ X – XVI.
22
MỘT SỐ CHIẾN THẮNG TIÊU BIỂU GẮN
VỚI VÙNG ĐẤT HẢI DƯƠNG
Hai câu đối tại Nghi môn đền Kiếp Bạc có nội dung:
“Kiếp Bạc muôn ngọn núi đều có hùng khí của kiếm thiêng
Lục Đầu không còn nước nào chẳng vọng tiếng Thu”
Vùng đất Vạn Kiếp; Lục Đầu Giang đã ghi dấu những chiến công oai
hùng của dân tộc trong đấu tranh chống ngoại xâm như thế nào?
1 Chiến thắng Lục Đầu Giang năm 981
Chiến thắng Lục Đầu Giang năm 981 đã diễn ra như thế nào?
Trong cuộc kháng chiến chống quân Tống lần thứ nhất, vùng đất Hải Dương tuy
không phải là địa bàn diễn ra các trận quyết chiến chiến lược, nhưng với vai trò là một
vị trí quan trọng nên nhân dân Hải Dương, đặc biệt là nhân dân Vạn Kiếp đã góp phần
đáng kể vào sự nghiệp đánh thắng quân Tống.
Đầu năm 981, quân Tống xâm lược nước ta theo hai đường thuỷ, bộ. Cánh quân
thuỷ do Hầu Nhân Bảo chỉ huy tiến vào nước ta theo cửa sông Bạch Đằng. Trước sức
mạnh của quân Tống, lực lượng quân của Đại Cồ Việt không giữ được cửa ngõ Bạch
Đằng. Lê Hoàn cho rút quân về vùng núi thuộc Kinh Môn và Chí Linh để vừa củng cố
lực lượng, vừa phát triển chiến tranh du kích, làm suy yếu quân Tống. Đặc biệt, Lê
Hoàn đã cho xây dựng tuyến phòng thủ vững chắc trên sông Lục Đầu.
Tháng 2 và tháng 3 năm 981, nghĩa quân đánh thắng nhiều trận trên sông Kinh
Thầy và Lục Đầu Giang, tạo nền tảng cho chiến thắng cuối cùng trên sông Bạch Đằng
vào tháng 4 năm 981.
23
Ngày 30 Tết năm Canh Thìn (tức ngày
7 – 2 – 981), Hầu Nhân Bảo chỉ huy cánh
quân thuỷ tiến theo sông Kinh Thầy vào
sông Lục Đầu nhằm tiến vào Đại La, làm
bàn đạp tiến đánh Hoa Lư. Chiến tuyến
Lục Đầu Giang với hệ thống núi sông hiểm
trở, cùng với sự chỉ huy trực tiếp của Lê
Hoàn cùng các tướng Trần Công Ích, Trần
Bảo Chung,… đã trở thành phòng tuyến
vững chắc, làm tiêu hao sinh lực và chặn
đứng đường tiến công của quân Tống.
Hình 1. Lược đồ cuộc kháng chiến chống Tống
năm 981
Thất bại ở sông Lục Đầu đã làm quân Tống suy yếu, rệu rã, tạo thời cơ cho quân
dân Đại Cồ Việt đẩy mạnh tiến công, đi đến thắng lợi cuối cùng trên sông Bạch Đằng
vào tháng 4 năm 981.
Trong cuộc kháng chiến chống Tống năm 981, Lục Đầu Giang là một tuyến phòng
thủ trọng yếu, khẳng định vai trò “phên giậu” của đất Hồng Châu. Nhân dân Hồng
Châu đã đóng góp nhiều nhân tài, vật lực, đưa cuộc kháng chiến đến thắng lợi.
2 Chiến thắng quân Nguyên tại Vạn Kiếp
a. Năm 1285
Đọc thông tin và quan sát lược đồ hình 3 (trang 25), hãy cho biết những nét
diễn biến chính về trận đánh tại Vạn Kiếp trong cuộc kháng chiến chống quân
Nguyên năm 1285.
Vùng đất Vạn Kiếp thuộc lộ Hải Đông thời Trần (nay thuộc thành phố Chí Linh –
Hải Dương) được bao bọc bởi hệ thống núi hiểm trở: núi Vạn Yên, Bắc Đẩu, Nam Tào,…
nhìn ra sông Lục Đầu. Đây là đầu mối huyết mạch giao thông thuỷ, bộ trấn giữ cửa ngõ
phía Đông kinh thành Thăng Long.
Sớm nhận ra vị trí chiến lược quan trọng của Vạn Kiếp và Lục Đầu Giang, ngay sau
cuộc kháng chiến chống quân Mông Cổ lần thứ nhất năm 1258, Trần Quốc Tuấn đã
chọn nơi này để xây dựng chiến luỹ quân sự trọng yếu của đất nước.
24
Đại bản doanh Vạn Kiếp là một
khu vực rộng lớn, có dãy núi Trán Rồng
hình tay ngai, bao bọc thung lũng sông
Thương, có thể tập kết hàng nghìn
chiến thuyền. Hệ thống núi rừng của
cánh cung Yên Tử có thể là căn cứ an
toàn cho hàng vạn quân. Trên đỉnh núi
có thể quan sát rõ cả một vùng bao la,
tạo thế chủ động cho quân sĩ.
Hình 2. Một thung lũng sông Thương ăn sâu
vào Vạn Kiếp
Năm 1282, trước kế hoạch tấn công Đại Việt của quân Nguyên, nhà Trần đã tổ
chức Hội nghị Vương hầu bách quan (Hội nghị Bình Than) tại Trần Xá bên dòng sông
Kinh Thầy (nay thuộc xã Nam Hưng, huyện Nam Sách) để bàn kế sách đánh giặc.
Trong quá trình nhà Trần thực hiện kế sách
"vườn không nhà trống" (từ tháng 2 – 1285),
triều đình rút về Thiên Trường (đất Nam Định
cũ) và Trường Yên (Ninh Bình), Trần Quốc
Tuấn đã cho tập trung lực lượng, dựa vào địa
hình hiểm trở của hệ thống núi, sông tại Vạn
Kiếp để xây dựng một hệ thống điểm chốt
chặn trọng yếu, nhằm tiêu diệt cánh quân thuỷ
của địch rút khỏi Thăng Long.
Từ tháng 4 đến tháng 6 – 1285, quân nhà
Trần bắt đầu phản công quân Nguyên trên
khắp các chiến trường. Sau những thất bại tại
Hàm Tử, Chương Dương và Thăng Long, quân
Nguyên đã rút chạy khỏi Thăng Long. Ngày 10
– 6 – 1285, cánh quân của Thoát Hoan rút chạy
nhưng bị chặn đánh tại sông Như Nguyệt nên
đã chuyển hướng, rút theo đường sông Thương.
Hình 3. Lược đồ cuộc kháng chiến chống quân
Nguyên lần thứ hai (năm 1285)
25
Tại sông Thương, Vạn Kiếp, lực lượng
mai phục của Trần Quốc Tuấn đã tiêu diệt
phần lớn cánh quân thuỷ của địch, Thoát
Hoan phải trốn trong ống đồng để rút khỏi
Vạn Kiếp.
Hình 4. Tranh vẽ trận Vạn Kiếp năm 1285
Vạn Kiếp trở thành mồ chôn quân giặc, kết thúc thắng lợi cuộc kháng chiến chống
quân Nguyên xâm lược lần thứ hai. Chiến thắng Vạn Kiếp có sự đóng góp to lớn của nhân
dân Hải Dương nói chung, nhân dân Vạn Kiếp nói riêng.
b. Năm 1288
Quan sát lược đồ hình 5 (trang 26) và cho biết: Vạn Kiếp có vai trò như thế
nào trong cuộc kháng chiến chống quân Nguyên năm 1288?
Nhận thấy vai trò trọng yếu của Vạn Kiếp, trong cuộc xâm lược Đại Việt lần thứ ba
năm 1288, quân Nguyên quyết chiếm Vạn Kiếp nhằm tạo bước đệm vững chắc để tấn
công vào Thăng Long. Vạn Kiếp một lần nữa trở thành chiến trường của cuộc chiến.
Hình 5. Lược đồ kháng chiến chống quân Nguyên năm 1288
26
Đầu tháng 1 – 1288, quân của Ô Mã Nhi và Thoát Hoan cùng đánh chiếm Vạn
Kiếp, sông Lục Đầu và núi Chí Linh, rồi từ đó tiến vào Thăng Long. Một lần nữa, nhà
Trần thực hiện “vườn không nhà trống”. Sau hơn hai tháng chiến đấu, do hết lương
thực, từ tháng 3 – 1288 Thoát Hoan và Ô Mã Nhi đã rút về Vạn Kiếp rồi chia ra hai
đường thuỷ, bộ để rút lui. Ngày 9 – 4 – 1288, Ô Mã Nhi cùng tàn quân rút theo đường
thuỷ. Vạn Kiếp và sông Bạch Đằng đã trở thành một chiến trường thống nhất, quân
của Trần Quốc Tuấn đã bắt sống tướng giặc Ô Mã Nhi và tiêu diệt phần lớn cánh quân
thuỷ của địch, số còn lại rút về Vạn Kiếp, bị quân ta tấn công tiêu diệt.
Chiến thắng quân Nguyên là một trong những chiến công vĩ đại bậc nhất trong
lịch sử đấu tranh chống ngoại xâm của dân tộc ta. Vùng đất Hải Dương không chỉ là
nơi cung cấp nhân tài, vật lực cho kháng chiến mà còn là nơi diễn ra những trận đánh
quyết liệt nhất, ghi dấu những trang sử hào hùng của dân tộc Việt Nam.
1. Đánh giá vai trò của nhân dân Hải Dương đối với các cuộc kháng chiến chống
ngoại xâm của Việt Nam trong các thế kỉ X – XV.
2. Giới thiệu những dấu tích của chiến trường Vạn Kiếp xưa tại khu vực Kiếp Bạc
ngày nay.
KẾT NỐI DI SẢN
Thái ấp Vạn Kiếp là nơi Trần Hưng Đạo đã sống, chiến đấu và trút hơi
thở cuối cùng. Tại đây, ông đã viết các tác phẩm như Binh thư yếu lược;
Vạn Kiếp tông bí truyền thư,… tổng kết kinh nghiệm trong đấu tranh giữ
nước, chống giặc ngoại xâm. Cũng chính nơi đây, Trần Hưng Đạo đã nói
những lời trăng trối cuối cùng với vua Trần về kế sách giữ nước: “Có thu
dụng quân lính như cha con mới dùng quân được” và “Thời bình phải khoan
thư sức dân, làm kế sâu rễ bền gốc, đó là thượng sách giữ nước”.
27
Chủ đề 3
NGHỆ THUẬT TRUYỀN THỐNG CỦA
HẢI DƯƠNG
Mục tiêu
• Trình bày được sự xuất hiện và phát triển của một số nghệ thuật truyền
thống của Hải Dương (nghệ thuật chèo, ca trù, múa rối nước, hát trống
quân) của Hải Dương từ thế kỉ X đến đầu thế kỉ XVI.
• Nhận xét được giá trị văn hoá của các loại hình nghệ thuật này đối với
đời sống nhân dân địa phương.
• Trải nghiệm, thực hành một số nghệ thuật truyền thống của địa phương;
nêu các giải pháp bảo tồn các loại hình nghệ thuật này trong giai đoạn
hiện nay.
28
Hải Dương là vùng đất thuộc đồng bằng châu thổ sông Hồng, có
bề dày truyền thống lịch sử và văn hoá. Gắn với nền kinh tế nông
nghiệp lúa nước, vùng đất xứ Đông nổi tiếng là một trong những cái
nôi của nhiều loại hình nghệ thuật dân gian như hát chèo, ca trù,
múa rối nước, hát trống quân,…
Vậy những nghệ thuật truyền thống trên đã phát triển tại Hải Dương
như thế nào?
NGHỆ THUẬT CHÈO
Hải Dương có phải một trong những cái nôi của nghệ thuật chèo không?
Chèo là loại hình nghệ thuật sân khấu cổ truyền của Việt Nam, được ra đời từ thế
kỉ X. Người nghệ sĩ dân gian đầu tiên được sử sách ghi nhận là bà P...
SỞ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
LƯƠNG VĂN VIỆT (Tổng Chủ biên)
ĐỖ DUY HƯNG (Chủ biên)
NGUYỄN THANH THUỶ - ĐẶNG VĂN BÌNH - PHẠM VĂN KHANH
7
Mục lục
Lời nói đầu
3
Hướng dẫn sử dụng tài liệu
4
Chủ đề 1. Lịch sử Hải Dương từ thế kỉ X đến đầu thế kỉ XVI
5
Chủ đề 2. Hải Dương – Phên giậu phía đông trong cuộc đấu tranh
2
bảo vệ độc lập, tự chủ của dân tộc
19
Chủ đề 3. Nghệ thuật truyền thống của Hải Dương
28
Chủ đề 4. Tục ngữ, ca dao của Hải Dương
40
Chủ đề 5. Tài nguyên thiên nhiên
50
Chủ đề 6. Thiên tai và phòng chống thiên tai
70
Lời nói đầu
Các em học sinh thân mến!
Tài liệu Giáo dục địa phương tỉnh Hải Dương – Lớp 7 sẽ tiếp tục đồng hành cùng
các em học sinh trong việc tiếp cận và khám phá các vấn đề về văn hoá, lịch sử truyền
thống; địa lí, kinh tế, hướng nghiệp; chính trị – xã hội, môi trường của xứ Đông xưa,
Hải Dương nay.
Với sáu chủ đề được Ban Biên soạn lựa chọn kĩ lưỡng, bám sát mục tiêu, yêu cầu
của nội dung giáo dục địa phương, các em sẽ có cơ hội tìm hiểu, trải nghiệm, khám
phá lịch sử phát triển của Hải Dương từ thế kỉ X đến đầu thế kỉ XVI; vai trò của Hải
Dương trong cuộc đấu tranh bảo vệ độc lập, tự chủ của dân tộc; nghệ thuật truyền
thống của Hải Dương; tục ngữ, ca dao của Hải Dương; tài nguyên thiên nhiên của Hải
Dương; thiên tai và phòng chống thiên tai của tỉnh.
Thông qua các hoạt động khám phá tri thức, các em có điều kiện phát huy, phát
triển một số năng lực cốt lõi và phẩm chất chủ yếu cần có của học sinh trung học cơ
sở. Qua đó, bồi dưỡng niềm tự hào, tình yêu quê hương, ý thức giữ gìn, bảo tồn, phát
huy các giá trị truyền thống của quê hương; vận dụng những điều đã học vào giải
quyết những vấn đề nảy sinh từ thực tế của quê hương, góp phần bảo vệ môi trường
tự nhiên tại tỉnh Hải Dương nói riêng, cả nước nói chung.
Trong quá trình biên soạn, tài liệu không tránh khỏi những thiếu sót. Rất mong
nhận được ý kiến đóng góp của các các thầy cô giáo và các em học sinh để Tài liệu
giáo dục địa phương tỉnh Hải Dương – Lớp 7 ngày càng hoàn thiện hơn.
Ban Biên soạn
3
Hướng dẫn sử dụng tài liệu
Các em học sinh thân mến!
Tài liệu Giáo dục địa phương tỉnh Hải Dương – Lớp 7 được biên soạn gồm sáu chủ
đề thuộc các lĩnh vực địa lí, lịch sử và ngữ văn; mỗi lĩnh vực có đặc điểm riêng. Các em
cần bám sát đặc trưng của từng môn học để tìm hiểu, khám phá và chiếm lĩnh tri thức.
Mỗi phần, mỗi bài học cụ thể của chủ đề thường bắt đầu bằng các nhiệm vụ, tình
huống cần giải quyết để các em kết nối với tri thức đã biết và tiếp tục tìm kiếm, thu
thập thông tin cần thiết trước, trong và sau khi tìm hiểu mỗi bài học và cả chủ đề.
Phần hình thành kiến thức, đọc hiểu văn bản được thể hiện sinh động qua kênh
chữ, kênh hình và một số hình ảnh minh hoạ. Những câu hỏi, hoạt động, hướng dẫn
giúp các em tự tin khám phá kiến thức về địa lí, lịch sử và văn hoá của Hải Dương.
Phần thực hành, luyện tập là những câu hỏi, bài tập nhằm củng cố, khắc sâu kiến
thức, rèn kĩ năng nhận diện, nhận xét, đánh giá, bước đầu giải quyết một số vấn đề có
liên quan.
Phần vận dụng, mở rộng, tìm tòi, sáng tạo là những gợi ý, yêu cầu, định hướng để
các em kết nối tri thức của địa phương Hải Dương với tri thức chung của dân tộc và
thế giới; kết nối kiến thức nội môn, liên môn một cách chủ động, sáng tạo nhằm hình
thành các phẩm chất chủ yếu, phát triển các năng lực cốt lõi, sở trường, năng khiếu
của mỗi cá nhân một cách hiệu quả nhất.
Chúc các em tự giác, tự chủ, tự tin và sáng tạo trong học tập để đạt kết quả tốt nhất.
Ban Biên soạn
KÍ HIỆU DÙNG TRONG SÁCH
Hãy bảo quản, giữ gìn tài liệu để có thể dành tặng cho các em học sinh lớp sau nhé!
4
Chủ đề 1
LỊCH SỬ HẢI DƯƠNG
TỪ THẾ KỈ X ĐẾN ĐẦU THẾ KỈ XVI
Mục tiêu
• Trình bày được sự phát triển của xã hội, kinh tế, văn hoá Hải Dương từ
thế kỉ X đến thế kỉ XVI.
• Nhận xét được sự phát triển của kinh tế, văn hoá của Hải Dương trong
lịch sử.
• Tìm hiểu, giới thiệu được một số di tích lịch sử – văn hoá; thành tựu
văn hoá; nghề thủ công tiêu biểu của Hải Dương.
Bình gốm Chu Đậu thế kỉ XV được lưu tại Bảo tàng Topkapi Saray, Istanbul (Thổ Nhĩ Kỳ)
5
TÌNH HÌNH XÃ HỘI
Thế kỉ X được coi là mốc mở đầu thời đại phong kiến độc lập của
dân tộc Việt Nam. Xã hội phong kiến được thiết lập và từng bước
phát triển, đạt đến đỉnh cao trong các thế kỉ XV – XVI.
Vậy tình hình xã hội của Hải Dương đã phát triển như thế nào trong
các thế kỷ X - XVI?
1 Tên gọi Hải Dương
Tên gọi Hải Dương được ra đời gắn với triều đại nào trong các thế kỉ X – XVI?
Từ thế kỉ X đến thế kỉ XVI, vùng đất Hải Dương mang nhiều tên gọi khác nhau qua
các triều đại.
Thời gian
Đơn vị hành chính
Tên gọi
Thời Lý
Lộ
Hồng Lộ
Thời Trần
Lộ
Hải Đông
Thời Lê sơ (1428 – 1469)
Thừa tuyên
Nam Sách
Thời Lê sơ (từ 1469)
Thừa tuyên
Hải Dương
Hải Dương khi đó giáp biển nên tên gọi Hải Dương có hàm ý là “ánh dương miền duyên
hải” . Bên cạnh tên gọi hành chính, từ thời nhà Lý, với vị trí là một trong tứ trấn quan trọng
của kinh thành Thăng Long nên vùng đất Hải Dương còn mang tên gọi xứ Đông.
1
1
6
Phan Huy Chú, Lịch triều hiến chương loại chí, tập 2, tr100.
2 Tình hình xã hội Hải Dương
Trong các thế kỉ X – XVI, xã hội Hải Dương đã có những chuyển biến gì?
Thế kỉ X, dưới thời Đinh, Tiền Lê, ruộng đất chủ yếu là ruộng đất công của các
làng, xã, chia cho nông dân cày cấy. Tuy nhiên, cuối thế kỉ X bắt đầu xuất hiện một
số hào trưởng địa phương là quý tộc, sở hữu nhiều ruộng đất.
Thời Lý – Trần, chế độ phong ruộng đất cho các vương hầu, quý tộc và những
người có công với triều đình đã đưa đến sự xuất hiện nhiều thái ấp. Tại vùng đất Hải
Dương (Hải Đông lộ) đã có tám thái ấp rộng lớn. Giai cấp địa chủ từng bước được
hình thành.
Thời Trần, những người
thuộc hàng tôn thất và những
người tài giỏi, lập công lớn
trong các cuộc kháng chiến
chống xâm lược Nguyên Mông
được ban quốc tính (họ nhà
vua) được triều đình ban thái
ấp, ruộng đất này không phải
nộp tô thuế cho nhà nước.
Trên tấm bia “Tam Bảo
địa” tại núi Phượng Hoàng (xã
Yên Đức, Đông Triều nay thuộc
Quảng Ninh), ghi rõ “Chủ đất
làm chức Hành khiển được
vua Trần ban quốc tính là Trần
Khắc Chung và vợ là Bảo Hoàn
công chúa…”
Hình 1. Bia khắc xác nhận thái ấp của
Trần Khắc Chung trên núi Phượng Hoàng
(xã Yên Đức, Đông Triều nay thuộc Quảng Ninh)
7
Dưới thời nhà Trần, Hải Dương có các thái ấp của An Sinh Vương Trần Liễu ở
vùng Kinh Môn; thái ấp của Trần Khắc Chung ở Đông Triều; thái ấp của Trần Quốc
Tuấn; thái ấp của Chiêu Vũ đại vương Trần Quốc Chẩn và thái ấp của Thượng tướng
Trần Phó Duyệt (cha của Trần Khánh Dư) ở Chí Linh1,… là những vùng đất rộng lớn.
Từ thời Hồ đến thời Lê sơ, tình trạng mua bán ruộng đất được nhà nước cho phép
nên ruộng đất tư nhân tăng nhanh, các thái ấp xuất hiện ngày càng nhiều, giai cấp
địa chủ ở Hải Dương không ngừng lớn mạnh. Chế độ phong kiến ngày càng phát triển
trong xã hội Hải Dương.
1. Giới thiệu về ý nghĩa của tên gọi Hải Dương quê hương em.
2. Tại sao ở Hải Dương từ thế kỉ X – XVI có nhiều thái ấp của các quan lại, quý tộc?
1
8
Nguyễn Trãi, Dư địa chí, H. KHXH, Hà Nội, 1976, tr218.
TÌNH HÌNH KINH TẾ
Qua năm đợt khảo cổ học từ năm 1983 đến năm 2014 và cuộc
trục vớt con tàu đắm tại Cù Lao Chàm năm 1997 đã có nhiều kết
luận quan trọng về sản phẩm gốm sứ Chu Đậu cũng như về trung
tâm sản xuất gốm sứ bậc nhất của Hải Dương và cả nước trong
các thế kỉ XV - XVI.
Vậy, tình hình kinh tế của Hải Dương đã phát triển như thế nào
trong các thế kỉ X - XVI?
1 Nông nghiệp
Kinh tế nông nghiệp tại Hải Dương phát triển như thế nào trong các thế kỉ
X – XVI?
Hải Dương là vùng đồng bằng màu mỡ, có “ruộng vào hạng thượng thượng”1 nên
từ thế kỉ X, Hải Dương đã được biết đến là một trong những địa phương có thế mạnh
trong sản xuất nông nghiệp.
Dưới thời Lý – Trần, do chính sách khuyến nông tích cực của triều đình nên
diện tích đất canh tác được mở rộng, kinh tế nông nghiệp vùng Hồng Châu bắt
đầu phát triển.
1
Nguyễn Trãi, Dư địa chí, H: KHXH, Hà Nội, 1976, tr218.
9
Sản xuất nông nghiệp phát triển quy mô lớn trong các thái ấp, điển hình là thái ấp
của Hưng Đạo đại vương Trần Quốc Tuấn ở Vạn Kiếp. Công lao của Công chúa Thiên
Thành là phu nhân của Trần Hưng Đạo trong việc phát triển sản xuất nông nghiệp, xây
dựng căn cứ hậu phương vững chắc phục vụ đại bản doanh Vạn Kiếp trong cuộc kháng
chiến chống quân Nguyên Mông xâm lược được lưu trong thần tích của làng Trung Quê
(xã Lê Lợi, thành phố Chí Linh). Ngày nay, dân gian còn truyền tụng câu ca:
“Trâu thì Mẫu thả Huyền Đinh
Lợn thì Mẫu thả cánh đồng Trung Quê”.
Thời Lê sơ, ruộng đất công làng xã ở Hải Dương được chia lại theo phép quân
điền, đê điều được củng cố, binh lính được về quê làm ruộng,… thúc đẩy kinh tế nông
nghiệp Hải Dương phát triển mạnh mẽ.
Đến thời Lê – Trịnh, ruộng đất công làng xã bị thu hẹp dần, chính quyền không
quan tâm đến thuỷ lợi và tổ chức khai hoang, kinh tế nông nghiệp bị suy giảm, nạn
mất mùa đói kém xảy ra liên miên. Đây là nguyên nhân làm bùng nổ các phong trào
đấu tranh của nông dân Hải Dương chống lại chính quyền phong kiến.
KẾT NỐI DI SẢN
Ngọc phả đền Đồng Bào thuộc xã Gia Xuyên, thành phố Hải Dương;
miếu Đông Cận xã Tân Tiến, đền Đươi xã Thống Nhất, huyện Gia Lộc; chùa
Cẩm Trục xã Ngọc Liên, huyện Cẩm Giàng… thờ Nguyên phi Ỷ Lan đều có
ghi công tích của bà dạy dân làng mở đất, cấy lúa, trồng dâu nuôi tằm.
2 Thủ công nghiệp
Kể tên những nghề thủ công phát triển tại Hải Dương trong các thế kỉ X - XVI?
10
Là vùng đất nhiều sản vật, cư dân đông đúc nên sản xuất thủ công nghiệp
của Hải Dương trong thời kì này phát triển mạnh mẽ với nhiều ngành nghề, tiêu
biểu là các ngành, nghề thủ công như: chạm khắc gỗ, đúc đồng, làm gốm sứ,…
Ở các làng xã xuất hiện ngày càng nhiều các làng nghề thủ công nhất là nghề
gốm sứ.
Hải Dương là một trong những địa phương sản xuất gốm sứ lớn nhất cả nước.
Từ thế kỉ X, nghề sản xuất gốm và đóng gạch ngói đã rất phát triển. Đến thời Trần,
nhiều làng nghề sản xuất gốm đã ra đời và phát triển mạnh mẽ như cơ sở sản
xuất gốm sứ Vạn Kiếp (thành phố Chí Linh); làng Gốm phường Cổ Thành (thành
phố Chí Linh); làng gốm Chu Đậu (nay thuộc xã Minh Tân, huyện Nam Sách). Thời
Lê sơ, nghề gốm phát triển mở rộng, xuất hiện thêm nhiều làng gốm như: làng
Cậy xã Long Xuyên (huyện Bình Giang), gốm Hợp Lễ xã Long Xuyên (huyện Bình
Giang). Thế kỉ XV – XVI, các sản phẩm gốm Chu Đậu, Hợp Lễ là những sản phẩm
tiêu biểu cho dòng gốm thời Lê ở Việt Nam và đã được giao thương với nhiều
nước trên thế giới.
Hình 1. Sản phẩm gốm Hợp Lễ, thế kỉ XV
Hình 2. Đĩa gốm Chu Đậu, thế kỉ XV – XVI
Các nghiên cứu cho thấy thế kỉ XIV – XV, nghề gốm Việt Nam đã có bước phát triển
mạnh không chỉ về số lượng mà cả về chất lượng. Nhiều trung tâm sản xuất gốm xuất
khẩu mới ra đời và phát triển nhanh cả về quy mô và tốc độ. Hải Dương có bảy làng chuyên
làm gốm tráng men là Chu Đậu, Mỹ Xá (huyện Nam Sách), Ngói, Cậy, Láo, Bá Thuỷ, Hợp Lễ
(huyện Bình Giang).
11
Hình 3. Bình gốm hoa lam Chu Đậu lưu tại
Bảo tàng Topkapi Saray Istanbul (Thổ Nhĩ
Kỳ) do nghệ nhân Bùi Thị Hý tạo năm 1450
Hình 4. Ấm gốm hoa lam hình chim phượng
Chu Đậu, thế kỉ XV (hiện vật trong con tàu đắm
ở Cù Lao Chàm)
Ngoài ra, nhiều ngành nghề thủ công khác được phát triển tại Hải Dương, gắn với
các địa phương như: trồng dâu nuôi tằm dệt vải tại Mao Điền, chạm khắc gỗ Đông
Giao, huyện Cẩm Giàng; nghề nhuộm Đan Loan, kim hoàn Châu Khê, huyện Bình
Giang; chạm khắc đá Kính Chủ, Phạm Thái, thị xã Kinh Môn; nghề đóng giày Tam
Lâm, huyện Gia Lộc,…
3 Thương nghiệp
Kinh tế thương nghiệp của Hải Dương phát triển như thế nào trong các
thế kỉ X – XVI?
Do có lợi thế về kinh tế nông nghiệp, thủ công nghiệp và giao thông thuỷ nên
trong các thế kỉ X – XVI, thương nghiệp Hải Dương rất phát triển.
12
Dưới thời Lý – Trần, thương cảng Vân Đồn là thương cảng quốc tế đầu tiên
của nước ta. Hải Dương nằm trên trục giao thông thuỷ quan trọng, nối kinh đô
Thăng Long với thương cảng Vân Đồn, có mạng lưới đường sông nối liền với các
tỉnh lân cận nên hoạt động buôn bán, giao thương phát triển mạnh mẽ. Thế kỉ XV
– XVI, Hải Dương đã trở thành một trung tâm thương nghiệp lớn ở khu vực đồng
bằng Bắc Bộ.
Từ thời Lê sơ, hệ thống
chợ ở Hải Dương đã phát triển
mạnh, thường ở mỗi xã hoặc vài
xã lân cận có một chợ chung,
họp vào những ngày nhất định
trong tháng. Nhiều cảng sông
có hoạt động giao thương tấp
nập, thuyền bè đi lại như mắc cửi
như bến Vạn Kiếp (Vạn Kiếp, Chí
Linh); bến Nhạn Loan (Cổ Thành,
Chí Linh); bến Cổ Phường thuộc
làng gốm Chu Đậu (Thái Tân,
Nam Sách); bến Tiên Kiều (xã
Đức Chính, Cẩm Giàng), bến Ninh
Hình 5. Tranh vẽ cảnh chợ làng thời Hậu Lê
Giang (thị trấn Ninh Giang),…
Hàng hoá được giao thương tại Hải Dương thời kì này chủ yếu là các sản phẩm
thủ công, đặc biệt là đồ gốm. Tại các phiên chợ, nhân dân buôn bán các sản phẩm
nông nghiệp như thóc, gạo, rau, hoa quả; các sản phẩm ngư nghiệp như tôm, cua, cá,
ốc; các sản phẩm thủ công mây, tre đan như rổ, rá, thúng, dần, sàng, nong, nia; các
loại gia súc, gia cầm như lợn, gà, chó, mèo; các loại vải vóc, đồ gốm sứ,…
Thời Lê sơ, gốm sứ Hải Dương có mặt ở hầu hết các tỉnh Bắc Bộ, Trung Bộ và
được giao thương với các nước trên thế giới nhiều nhất. Các sản phẩm gốm sứ của
Hải Dương không chỉ là mặt hàng phục vụ nội thương mà còn đáp ứng được yêu
cầu của ngoại thương. Sản phẩm gốm Chu Đậu được nhiều quốc gia ưa chuộng và
đã được giao thương với nhiều nước trên thế giới như: Trung Quốc, Nhật Bản và các
nước phương Tây.
13
Hình 6. Lược đồ về nơi có lưu giữ gốm Chu Đậu thế kỉ XV – XVI
1. Hoàn thành bảng thông tin về sự phát triển kinh tế của Hải Dương trong các thế kỉ
X - XVI:
Nội dung
Nông nghiệp
Thủ công nghiệp
Thương nghiệp
Điều kiện phát triển
Thành tựu
Đánh giá
2. Nhận xét về tình hình kinh tế của Hải Dương từ thế kỉ X – XVI.
3. Giới thiệu về một sản phẩm thủ công của Hải Dương thế kỉ X – XVI mà em thích.
14
TÌNH HÌNH VĂN HOÁ
Nhà nước Văn Lang, Âu Lạc được coi là thời kì đặt nền móng vững
chắc cho nền văn hoá bản địa của dân tộc Việt Nam. Qua quá
trình giao thoa văn hoá, tiếp thu có chọn lọc và cải biến, từ thế kỉ
X - XVI, nền văn hoá Đại Việt tiếp tục khởi sắc với nhiều thành tựu
rực rỡ.
Văn hoá Hải Dương đã phát triển như thế nào trong giai đoạn này?
1 Tín ngưỡng - tôn giáo
Văn hoá Hải Dương trong các thế kỉ X – XVI có bước phát triển mới như
thế nào?
Từ thế kỉ X, bên cạnh việc duy trì các tín ngưỡng như thờ cúng tổ tiên, tôn vinh
những người có công với nước, sùng bái thiên nhiên,… đạo Phật ở Hải Dương đã
nhanh chóng phát triển. Nhiều ngôi chùa đã được xây dựng trong thời kì này như:
chùa Động Ngọ (xã Tiền Tiến, thành phố Hải Dương); chùa Liên Hoa (xã Nhật Tân,
huyện Gia Lộc); chùa Kỳ Đà (phường Ái Quốc, thành phố Hải Dương), chùa Huyền
Thiên (phường Văn An, thành phố Chí Linh),…
15
Chùa Động Ngọ (xã Tiền Tiến,
huyện Thanh Hà, nay thuộc thành phố
Hải Dương) được xây dựng bởi Quốc
sư Khuông Việt vào năm 971 là minh
chứng cho sự tồn tại và phát triển của
đạo Phật ở Hải Dương từ thế kỉ X.
Hình 1. Chùa Động Ngọ
(xã Tiền Tiến, thành phố Hải Dương)
Dưới thời Lý – Trần, Phật giáo được coi trọng và chiếm địa vị độc tôn. Ở Hải
Dương, chùa được xây dựng tại các địa phương. Đặc biệt, vào thế kỉ XIII, trên vùng
đất Hải Dương có sự ra đời của thiền phái Phật giáo bản địa là Thiền phái Trúc Lâm
với một số vị cao tăng tiêu biểu như Pháp Loa, Tuệ Tĩnh.
Tháng 8 năm 1299, Thượng hoàng Trần Nhân Tông đi tu tại núi Yên Tử, sáng lập
ra Thiền phái Trúc Lâm. Cùng phát triển thiền phái này với vua là các Thiền sư kiệt xuất
gồm Pháp Loa và Huyền Quang, gọi chung là Trúc Lâm Tam tổ. Tư tưởng của Thiền
phái này hướng về con người với tinh thần yêu nước “Phật tại tâm, mọi người đều có thể
thành Phật, bất luận là tu sĩ xuất gia hay tại gia, nam hay nữ chỉ cần sống thiện, sống tốt
là thành Phật”.
Chùa Côn Sơn là nơi Trần Nhân
Tông, Pháp Loa, Huyền Quang là ba vị
tổ sáng lập thiền phái này đã từng tu
hành và thuyết pháp ở đây. Thiền sư
Huyền Quang là trụ trì chùa Côn Sơn
đã viên tịch tại đây vào ngày 23 tháng
Giêng năm Giáp Tuất (1334), vì thế Côn
Sơn được gọi là một trong những chốn
tổ của Thiền phái Trúc Lâm.
16
Hình 2. Chùa Côn Sơn (thành phố Chí Linh)
Bên cạnh sự phát triển của đạo Phật, từ thời Trần, Nho giáo và Đạo giáo từng
bước ảnh hưởng sâu rộng vào Hải Dương, tạo nên nét đặc sắc văn hoá “tam giáo
đồng nguyên”.
2 Giáo dục, khoa cử
Giáo dục của Hải Dương thế kỉ X – XVI phát triển như thế nào?
Từ thời nhà Lý, ngay từ những khoa thi đầu tiên, đất Hồng Châu (Hải Dương) đã
có Mạc Hiển Tích, người xã Lũng Động – huyện Chí Linh (nay là xã Nam Tân, huyện
Nam Sách) đỗ đầu khoa thi năm Bính Dần (1086) và trở thành người khai khoa cho
tỉnh Hải Dương. Trong số sáu khoa thi thời Lý, vùng đất Hải Dương (Hồng Lộ) có năm
người đỗ đạt.
Đến thời Trần, Hồng Châu có nhiều người đỗ đạt cao ra làm quan. Trong lĩnh vực
ngoại giao và văn học có Trạng nguyên Mạc Đĩnh Chi; cống hiến cho sự nghiệp giáo
dục có thầy giáo Chu Văn An; lĩnh vực y học có Đại danh y Tuệ Tĩnh,... Ngoài ra, còn
rất nhiều người đỗ đạt thành danh như: Phạm Sư Mạnh, Nguyễn Đại Năng (Kinh Môn);
Nguyễn Phi Khanh (Chí Linh); Lê Cảnh Tuân (Bình Giang),…
Mạc Đĩnh Chi (1280 – 1346)
người làng Lũng Động, huyện
Chí Linh (nay thuộc xã Nam
Tân, huyện Nam Sách, tỉnh Hải
Dương). Ông đỗ Trạng nguyên và
làm quan dưới thời vua Trần Anh
Tông. Ông được cử đi sứ Trung
Quốc và được vua Nguyên phong
“Lưỡng quốc Trạng nguyên”
(Trạng nguyên hai nước).
Hình 3. Đền thờ Mạc Đĩnh Chi (huyện Nam Sách)
17
Tuệ Tĩnh (1330 – 1385), người làng
Nghĩa Phú, tổng Văn Thai, phủ Thượng
Hồng (nay là thôn Nghĩa Phú, xã Cẩm
Vũ, huyện Cẩm Giàng, tỉnh Hải Dương) là
người mở đầu cho nền y dược cổ truyền
Việt Nam, được tôn là vị thánh thuốc Nam.
Ông đã xây dựng 24 ngôi chùa, cũng chính
là y xá chữa bệnh. Ông tập hợp nhiều
phương thuốc quý cho y học cổ truyền
Việt Nam.
Hình 4. Đền thờ Tuệ Tĩnh
(xã Cẩm Văn, huyện Cẩm Giàng)
Thời Lê sơ, cùng với việc đề cao giáo dục, khoa cử của nhà nước, giáo dục Hải
Dương cũng phát triển thêm một bước mới. Văn miếu trấn Hải Dương được xây dựng
vào thế kỉ XV tại xã Vĩnh Lại, huyện Đường An (nay thuộc xã Vĩnh Tuy, huyện Bình
Giang) là một biểu tượng về sự phát triển giáo dục xứ Đông. Qua các khoa thi dưới
thời Lê sơ với 31 kì thi, lấy đỗ 647 tiến sĩ, thì xứ Đông đã có 221 người đỗ tiến sĩ. Đến
triều Mạc (1527 – 1592) tổ chức 22 khoa thi, lấy đỗ 485 người, trong đó Hải Dương
có 122 người.
1. Nêu những thành tựu tiêu biểu về văn hoá - giáo dục của Hải Dương dưới thời
Lý – Trần – Lê sơ.
2. Đóng vai hướng dẫn viên du lịch, giới thiệu về văn hoá Hải Dương thế kỉ X – XVI.
3. Sưu tầm câu chuyện kể về những nhân vật lịch sử, những danh nhân văn hoá
của thời kì Lý – Trần – Lê sơ tại huyện, thị xã, thành phố nơi em sống.
18
Chủ đề 2
HẢI DƯƠNG - PHÊN GIẬU PHÍA ĐÔNG
TRONG CUỘC ĐẤU TRANH BẢO VỆ
ĐỘC LẬP, TỰ CHỦ CỦA DÂN TỘC
Mục tiêu
• Nêu được tầm quan trọng về vị thế của trấn Hải Dương đối với các cuộc
đấu tranh chống ngoại xâm.
• Nhận xét, đánh giá được vai trò trấn thủ của Hải Dương trong quá trình
đấu tranh chống ngoại xâm của dân tộc.
• Giới thiệu được về một vài địa danh của Hải Dương gắn với chiến thắng
trong đấu tranh chống xâm lược.
Nghi môn đền Kiếp Bạc
19
VỊ TRÍ TRẤN THỦ CỦA HẢI DƯƠNG
Từ khi nhà Lý dời đô từ Hoa Lư về Thăng Long (năm 1010), vùng đất
Hải Dương trở thành một trong “tứ trấn” quan trọng và được coi là
phên giậu phía Đông của kinh thành.
Với vị trí đó, Hải Dương có vai trò như thế nào trong các cuộc đấu
tranh chống ngoại xâm thế kỉ X - XVI?
1 Địa thế của vùng đất Hải Dương
Địa thế của Hải Dương có đặc điểm gì?
Địa thế của Hải Dương xưa rất đặc biệt: phía Đông Bắc có dãy núi Yên Tử thuộc
cánh cung Đông Triều tạo bức tường thành che chắn; phía Tây Bắc là hệ thống Lục
Đầu Giang, là điểm chốt quan trọng chặn mọi tuyến đường thuỷ từ phía Đông Bắc vào
kinh thành Thăng Long.
Trong bốn trấn thủ: xứ Đông, xứ
Bắc, xứ Đoài, xứ Nam, Hải Dương là
một trấn thủ trọng yếu ở phía Đông, bảo
vệ kinh thành Thăng Long.
Hình 1. Lược đồ tứ trấn của kinh thành Thăng Long
20
Lục Đầu Giang là nơi hội tụ của
sáu dòng sông: sông Thương, sông
Lục Nam, sông Cầu, sông Đuống, sông
Thái Bình và sông Kinh Thầy. Đây là
con đường thuỷ duy nhất từ phía Đông
Bắc vào Thăng Long.
Hình 2. Lược đồ Lục Đầu Giang
Là một trong “tứ trấn” của kinh thành, với địa thế đặc biệt nên từ thế kỉ X đến thế
kỉ XVI, Hải Dương luôn giữ vai trò là “phên giậu” trọng yếu trong các cuộc đấu tranh
bảo vệ nền độc lập của dân tộc.
2 Vai trò trấn thủ của Hải Dương trong các cuộc đấu tranh chống xâm lược thế
kỉ X – XVI
Vai trò trấn thủ của Hải Dương được thể hiện như thế nào trong các cuộc
kháng chiến chống xâm lược thế kỉ X – XVI?
Là vùng đất có địa thế hiểm yếu về quân sự nên trong suốt tiến trình đấu tranh
chống xâm lược thế kỉ X – XVI, Hải Dương luôn khẳng định vai trò là một trấn thủ quan
trọng của phía Đông kinh thành Thăng Long.
Năm 981, vua Lê đã chọn
Dược Đậu Trang (An Lạc –
Chí Linh) làm nơi đóng đại
bản doanh để kháng chiến
chống quân Tống xâm lược
lần thứ nhất.
Hình 3. Đền Cao thờ vua Lê Đại Hành tại
thành phố Chí Linh
21
Năm 1077, phòng tuyến
Vạn Xuân khu vực sông Lục
Đầu tạo thành bức tường thành
vững chắc góp phần quan
trọng trong chiến thắng quân
Tống xâm lược lần thứ hai.
Hình 4. Lược đồ cuộc kháng chiến chống Tống
năm 1077
Thời nhà Trần, đại bản
doanh Vạn Kiếp góp phần
quyết định làm nên thắng lợi
trong cuộc kháng chiến chống
quân Nguyên cuối thế kỉ XIII.
Hình 5. Sông nước Vạn Kiếp
Những thắng lợi quyết định gắn với Hải Dương thế kỉ X – XVI đã khẳng định vai
trò “phên giậu” của vùng đất xứ Đông, đồng thời khẳng định truyền thống yêu nước, ý
chí đấu tranh kiên cường của nhân dân địa phương trong công cuộc bảo vệ đất nước.
1. Kể tên những trận đánh, chiến thắng gắn với vùng đất Hải Dương trong quá trình
đấu tranh chống ngoại xâm của dân tộc thế kỉ X – XVI.
2. Đánh giá vai trò của vùng đất Hải Dương trong quá trình đấu tranh chống xâm lược
thế kỉ X – XVI.
3. Giới thiệu về một địa danh tại Hải Dương từng được coi là trấn thủ trong đấu tranh
chống ngoại xâm thế kỉ X – XVI.
22
MỘT SỐ CHIẾN THẮNG TIÊU BIỂU GẮN
VỚI VÙNG ĐẤT HẢI DƯƠNG
Hai câu đối tại Nghi môn đền Kiếp Bạc có nội dung:
“Kiếp Bạc muôn ngọn núi đều có hùng khí của kiếm thiêng
Lục Đầu không còn nước nào chẳng vọng tiếng Thu”
Vùng đất Vạn Kiếp; Lục Đầu Giang đã ghi dấu những chiến công oai
hùng của dân tộc trong đấu tranh chống ngoại xâm như thế nào?
1 Chiến thắng Lục Đầu Giang năm 981
Chiến thắng Lục Đầu Giang năm 981 đã diễn ra như thế nào?
Trong cuộc kháng chiến chống quân Tống lần thứ nhất, vùng đất Hải Dương tuy
không phải là địa bàn diễn ra các trận quyết chiến chiến lược, nhưng với vai trò là một
vị trí quan trọng nên nhân dân Hải Dương, đặc biệt là nhân dân Vạn Kiếp đã góp phần
đáng kể vào sự nghiệp đánh thắng quân Tống.
Đầu năm 981, quân Tống xâm lược nước ta theo hai đường thuỷ, bộ. Cánh quân
thuỷ do Hầu Nhân Bảo chỉ huy tiến vào nước ta theo cửa sông Bạch Đằng. Trước sức
mạnh của quân Tống, lực lượng quân của Đại Cồ Việt không giữ được cửa ngõ Bạch
Đằng. Lê Hoàn cho rút quân về vùng núi thuộc Kinh Môn và Chí Linh để vừa củng cố
lực lượng, vừa phát triển chiến tranh du kích, làm suy yếu quân Tống. Đặc biệt, Lê
Hoàn đã cho xây dựng tuyến phòng thủ vững chắc trên sông Lục Đầu.
Tháng 2 và tháng 3 năm 981, nghĩa quân đánh thắng nhiều trận trên sông Kinh
Thầy và Lục Đầu Giang, tạo nền tảng cho chiến thắng cuối cùng trên sông Bạch Đằng
vào tháng 4 năm 981.
23
Ngày 30 Tết năm Canh Thìn (tức ngày
7 – 2 – 981), Hầu Nhân Bảo chỉ huy cánh
quân thuỷ tiến theo sông Kinh Thầy vào
sông Lục Đầu nhằm tiến vào Đại La, làm
bàn đạp tiến đánh Hoa Lư. Chiến tuyến
Lục Đầu Giang với hệ thống núi sông hiểm
trở, cùng với sự chỉ huy trực tiếp của Lê
Hoàn cùng các tướng Trần Công Ích, Trần
Bảo Chung,… đã trở thành phòng tuyến
vững chắc, làm tiêu hao sinh lực và chặn
đứng đường tiến công của quân Tống.
Hình 1. Lược đồ cuộc kháng chiến chống Tống
năm 981
Thất bại ở sông Lục Đầu đã làm quân Tống suy yếu, rệu rã, tạo thời cơ cho quân
dân Đại Cồ Việt đẩy mạnh tiến công, đi đến thắng lợi cuối cùng trên sông Bạch Đằng
vào tháng 4 năm 981.
Trong cuộc kháng chiến chống Tống năm 981, Lục Đầu Giang là một tuyến phòng
thủ trọng yếu, khẳng định vai trò “phên giậu” của đất Hồng Châu. Nhân dân Hồng
Châu đã đóng góp nhiều nhân tài, vật lực, đưa cuộc kháng chiến đến thắng lợi.
2 Chiến thắng quân Nguyên tại Vạn Kiếp
a. Năm 1285
Đọc thông tin và quan sát lược đồ hình 3 (trang 25), hãy cho biết những nét
diễn biến chính về trận đánh tại Vạn Kiếp trong cuộc kháng chiến chống quân
Nguyên năm 1285.
Vùng đất Vạn Kiếp thuộc lộ Hải Đông thời Trần (nay thuộc thành phố Chí Linh –
Hải Dương) được bao bọc bởi hệ thống núi hiểm trở: núi Vạn Yên, Bắc Đẩu, Nam Tào,…
nhìn ra sông Lục Đầu. Đây là đầu mối huyết mạch giao thông thuỷ, bộ trấn giữ cửa ngõ
phía Đông kinh thành Thăng Long.
Sớm nhận ra vị trí chiến lược quan trọng của Vạn Kiếp và Lục Đầu Giang, ngay sau
cuộc kháng chiến chống quân Mông Cổ lần thứ nhất năm 1258, Trần Quốc Tuấn đã
chọn nơi này để xây dựng chiến luỹ quân sự trọng yếu của đất nước.
24
Đại bản doanh Vạn Kiếp là một
khu vực rộng lớn, có dãy núi Trán Rồng
hình tay ngai, bao bọc thung lũng sông
Thương, có thể tập kết hàng nghìn
chiến thuyền. Hệ thống núi rừng của
cánh cung Yên Tử có thể là căn cứ an
toàn cho hàng vạn quân. Trên đỉnh núi
có thể quan sát rõ cả một vùng bao la,
tạo thế chủ động cho quân sĩ.
Hình 2. Một thung lũng sông Thương ăn sâu
vào Vạn Kiếp
Năm 1282, trước kế hoạch tấn công Đại Việt của quân Nguyên, nhà Trần đã tổ
chức Hội nghị Vương hầu bách quan (Hội nghị Bình Than) tại Trần Xá bên dòng sông
Kinh Thầy (nay thuộc xã Nam Hưng, huyện Nam Sách) để bàn kế sách đánh giặc.
Trong quá trình nhà Trần thực hiện kế sách
"vườn không nhà trống" (từ tháng 2 – 1285),
triều đình rút về Thiên Trường (đất Nam Định
cũ) và Trường Yên (Ninh Bình), Trần Quốc
Tuấn đã cho tập trung lực lượng, dựa vào địa
hình hiểm trở của hệ thống núi, sông tại Vạn
Kiếp để xây dựng một hệ thống điểm chốt
chặn trọng yếu, nhằm tiêu diệt cánh quân thuỷ
của địch rút khỏi Thăng Long.
Từ tháng 4 đến tháng 6 – 1285, quân nhà
Trần bắt đầu phản công quân Nguyên trên
khắp các chiến trường. Sau những thất bại tại
Hàm Tử, Chương Dương và Thăng Long, quân
Nguyên đã rút chạy khỏi Thăng Long. Ngày 10
– 6 – 1285, cánh quân của Thoát Hoan rút chạy
nhưng bị chặn đánh tại sông Như Nguyệt nên
đã chuyển hướng, rút theo đường sông Thương.
Hình 3. Lược đồ cuộc kháng chiến chống quân
Nguyên lần thứ hai (năm 1285)
25
Tại sông Thương, Vạn Kiếp, lực lượng
mai phục của Trần Quốc Tuấn đã tiêu diệt
phần lớn cánh quân thuỷ của địch, Thoát
Hoan phải trốn trong ống đồng để rút khỏi
Vạn Kiếp.
Hình 4. Tranh vẽ trận Vạn Kiếp năm 1285
Vạn Kiếp trở thành mồ chôn quân giặc, kết thúc thắng lợi cuộc kháng chiến chống
quân Nguyên xâm lược lần thứ hai. Chiến thắng Vạn Kiếp có sự đóng góp to lớn của nhân
dân Hải Dương nói chung, nhân dân Vạn Kiếp nói riêng.
b. Năm 1288
Quan sát lược đồ hình 5 (trang 26) và cho biết: Vạn Kiếp có vai trò như thế
nào trong cuộc kháng chiến chống quân Nguyên năm 1288?
Nhận thấy vai trò trọng yếu của Vạn Kiếp, trong cuộc xâm lược Đại Việt lần thứ ba
năm 1288, quân Nguyên quyết chiếm Vạn Kiếp nhằm tạo bước đệm vững chắc để tấn
công vào Thăng Long. Vạn Kiếp một lần nữa trở thành chiến trường của cuộc chiến.
Hình 5. Lược đồ kháng chiến chống quân Nguyên năm 1288
26
Đầu tháng 1 – 1288, quân của Ô Mã Nhi và Thoát Hoan cùng đánh chiếm Vạn
Kiếp, sông Lục Đầu và núi Chí Linh, rồi từ đó tiến vào Thăng Long. Một lần nữa, nhà
Trần thực hiện “vườn không nhà trống”. Sau hơn hai tháng chiến đấu, do hết lương
thực, từ tháng 3 – 1288 Thoát Hoan và Ô Mã Nhi đã rút về Vạn Kiếp rồi chia ra hai
đường thuỷ, bộ để rút lui. Ngày 9 – 4 – 1288, Ô Mã Nhi cùng tàn quân rút theo đường
thuỷ. Vạn Kiếp và sông Bạch Đằng đã trở thành một chiến trường thống nhất, quân
của Trần Quốc Tuấn đã bắt sống tướng giặc Ô Mã Nhi và tiêu diệt phần lớn cánh quân
thuỷ của địch, số còn lại rút về Vạn Kiếp, bị quân ta tấn công tiêu diệt.
Chiến thắng quân Nguyên là một trong những chiến công vĩ đại bậc nhất trong
lịch sử đấu tranh chống ngoại xâm của dân tộc ta. Vùng đất Hải Dương không chỉ là
nơi cung cấp nhân tài, vật lực cho kháng chiến mà còn là nơi diễn ra những trận đánh
quyết liệt nhất, ghi dấu những trang sử hào hùng của dân tộc Việt Nam.
1. Đánh giá vai trò của nhân dân Hải Dương đối với các cuộc kháng chiến chống
ngoại xâm của Việt Nam trong các thế kỉ X – XV.
2. Giới thiệu những dấu tích của chiến trường Vạn Kiếp xưa tại khu vực Kiếp Bạc
ngày nay.
KẾT NỐI DI SẢN
Thái ấp Vạn Kiếp là nơi Trần Hưng Đạo đã sống, chiến đấu và trút hơi
thở cuối cùng. Tại đây, ông đã viết các tác phẩm như Binh thư yếu lược;
Vạn Kiếp tông bí truyền thư,… tổng kết kinh nghiệm trong đấu tranh giữ
nước, chống giặc ngoại xâm. Cũng chính nơi đây, Trần Hưng Đạo đã nói
những lời trăng trối cuối cùng với vua Trần về kế sách giữ nước: “Có thu
dụng quân lính như cha con mới dùng quân được” và “Thời bình phải khoan
thư sức dân, làm kế sâu rễ bền gốc, đó là thượng sách giữ nước”.
27
Chủ đề 3
NGHỆ THUẬT TRUYỀN THỐNG CỦA
HẢI DƯƠNG
Mục tiêu
• Trình bày được sự xuất hiện và phát triển của một số nghệ thuật truyền
thống của Hải Dương (nghệ thuật chèo, ca trù, múa rối nước, hát trống
quân) của Hải Dương từ thế kỉ X đến đầu thế kỉ XVI.
• Nhận xét được giá trị văn hoá của các loại hình nghệ thuật này đối với
đời sống nhân dân địa phương.
• Trải nghiệm, thực hành một số nghệ thuật truyền thống của địa phương;
nêu các giải pháp bảo tồn các loại hình nghệ thuật này trong giai đoạn
hiện nay.
28
Hải Dương là vùng đất thuộc đồng bằng châu thổ sông Hồng, có
bề dày truyền thống lịch sử và văn hoá. Gắn với nền kinh tế nông
nghiệp lúa nước, vùng đất xứ Đông nổi tiếng là một trong những cái
nôi của nhiều loại hình nghệ thuật dân gian như hát chèo, ca trù,
múa rối nước, hát trống quân,…
Vậy những nghệ thuật truyền thống trên đã phát triển tại Hải Dương
như thế nào?
NGHỆ THUẬT CHÈO
Hải Dương có phải một trong những cái nôi của nghệ thuật chèo không?
Chèo là loại hình nghệ thuật sân khấu cổ truyền của Việt Nam, được ra đời từ thế
kỉ X. Người nghệ sĩ dân gian đầu tiên được sử sách ghi nhận là bà P...
 





